Lược sử giáo xứ Nam Viên

 

Lời mở

 

Nhân dịp thánh lễ tạ ơn thánh hiến nhà thờ , dâng kính Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội (ngày 8/12/2008).

 

Sau đây xin viết lại giáo xứ Nam Viên đã có từ năm 1916-1917, nay đã 92-93 năm. Cảm tạ hông ân Thiên Chúa và viết về xin được viết về lược sử giáo xứ Nam Viên. Tổ biên tập giới thiệu đến quý vị, các cụ, ông bà, anh chị em về thửa đất phì nhiêu cho hạt giống Tin Mừng được gieo trồng và phát triển.

 

Qua nhiều năm biến cố thăng trầm nay nhờ ơn Chúa, cộng đoàn giáo xứ đã lớn mạnh, đơm hoa kết trái và đang phát triển tốt đẹp, ngày càng thêm hoa trái.

 

Từ nếp sống yêu thương và phục vụ của mọi thành phần dân Chúa trong cộng đoàn, để cùng mọi người ca tụng tình thương của Chúa đã ban cho giáo xứ bao  nhiêu điều kỳ diệu và tốt đẹp qua bao nhiêu năm nay.

 

Để tiếp truyền thống sống đạo tốt đẹp của ông bà tổ tiên, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, sự phù giúp của trái tim cực sạch Đức Mẹ và lời cầu bầu của các Thánh.

 

Giáo xứ Nam Viên cùng các giáo xứ trong giáo phận Bắc Ninh cùng tiến bước vững mạnh trong Hội Thánh Công Giáo.

 

Giáo xứ Nam Viên dâng lên giáo phận bản biên tập này, giáo xứ chúng con kính dâng lên các Đấng bậc chủ chăn trong giáo phận. Kính xin các Đấng bậc cầu nguyện cho giáo xứ chúng con, vì đây là một nền tảng khắc phục mọi bề khó khăn cùng mang nhau đi làm ăn mưu sống, quê chúng con ở giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định từ năm 1916-1917. Đầu tiên mới có 29,30 gia đình, trên 100 nhân danh, mà đến nay đã có 180 gia đình, hơn 800 nhân danh vẫn sinh sống với nhau trong ơn nghĩa Chúa.

 

Vì vậy, giáo xứ chúng con phải hết sức trân trọng giữ gìn phát triển đức tin ấy trong cả cuộc đời con cháu mai sau.

 

Giáo xứ chúng con bằng niềm tin, yêu mến, vâng lời các Đấng bậc trong giáo phận và Hội Thánh, giáo xứ chúng con xin dâng.

 

********************************************

 

 

Chi tiết chúng tôi xin biên tập để lưu giữ mãi mãi mai sau làm cột mốc từ năm 1916-1917 tới giáo xứ Nam Viên ngày nay.

 

Giữa khoảng trăm năm còn người ghi lại,

Sau khoảng trăm năm ai nhớ mà ghi.

 

Nay chúng tôi xin biên tập lại, để mọi người, mọi ông bà, anh chị em vì nhiều người chúng ta chưa biết gốc ngọn, ông cha  chúng ta đi làm ấp, làm ruộng như thế nào, từ bao giờ, khởi đầu tiên ở thôn Nam Viên này.

 

Ông cha  chúng ta cùng ở một huyện, cùng một giáo xứ, cùng nhau đi làm ăn sinh sống, mà lại toàn tân tòng, là công giáo, rất hiếm lạ, rất yêu thương; nói đến các cụ sinh ra chúng ta, mà chúng ta mà ai còn sống nay cũng đã 70 tuổi (2009), thì bố mẹ chúng ta cũng đã về chầu Chúa, chỉ còn nấm mồ trong lòng đất nghĩa trang Nam Viên này mà thôi.

 

Vậy sao mà đi làm ấp làm ruộng:

 

I-       Vì ông cha  mình ít ruộng không đủ việc nên mới hăng say rủ nhau cùng đi làm ấp có nhiều ruộng, có trâu cày và có nhiều thuận lợi.

II-    Vì có ông Vũ Đình Tuần(gọi là đội Tuần) là người công giáo quê ở họ Cầu Cha  nh, xứ Cổ Ra làm quản ấp cho ông Đỗ Đình Tiến ở thôn Điền, Tam Lộng, Vĩnh Yên. Ông Đỗ Đình Tiến cho ông Vũ Đình Tuần về chiêu mộ những người công giáo ở xứ sở mình đi làm ấp làm ruộng.

III- Vì ông chủ tên là Đỗ Đình Tiến, ông bà là người công giáo, có một cái ấp, có số ruộng 262 mẫu, ông bà chủ kén chọn ai là người công giáo sẽ đến cấp ruộng và trâu cho để làm ăn.

 

Đây xin kể từ trước năm 1945.

 

Sau đây xin trình bày sau năm 1945 Nam Viên cải tên như thế nào?

Trước năm 1945 thì gọi là ấp Nội Viên vì có một ông bà chủ ấp đứng lên trông coi về công giáo thì gọi là: họ Nội Viên.

 

Sau năm 1945, khi chính phủ ta dành lại được chính quyền, thì các cơ quan của huyện, xã cùng với nhân dân ấp Nội Viên họp bàn thống nhất đổi tên như sau: Vì đã có làng Nội Viên, lại cả ấp Nội Viên hơi vương vướng cho nên thay hai chữ của ấp Nội Viên, chữ ấp đổi là thôn, chữ Nội đổi là Nam, tức là thôn Nam Viên. Từ đó không còn gọi là ấp Nội Viên nữa, rồi cũng gọi là giáo họ Nam Viên, vì thay chữ Nam – là những người Nam Định đi làm ấp kể từ năm 1916-1917.

 

Khi ông Vũ Đình Tuần về chiêu mộ, chiều theo ông chủ Đỗ Đình Tiến loan báo tin rằng, những ai là người công giáo hoặc tân tòng lên làm ấp, làm ruộng, bất kể nhà nhiều người hay ít, trong mỗi gia đình sẽ cấp cho 7 mẫu ruộng và một con trâu cày. Như vậy là làm ăn thuận lợi, xu hướng tốt, nên mọi người rủ nhau đi làm ăn. Phần đông trong xứ sở ra đi.

Quê hương ở huyện Nam Trực – Nam Định: Xin giới thiệu về các họ:

1.                  Họ Cầu Cha  nh.

2.                  Họ Rộc Tiền.

3.                  Họ Cổ Ra.

4.                  Họ Ngưu Trì.

5.                  Họ Hậu Phú.

6.                  Họ Lạc Na.

7.                  Họ Giao Hoà, xứ Bắc Đáp.

8.                  Họ Đồng Bản.

9.                  Họ Vân Chàng, xứ Trực Chính.

10.               Họ Thọ Trung.

 

Vậy không phải là mọi người đến cùng một lúc, mà đến rải rác, lẻ tẻ, người đến trước, người đến sau, nên về đạo cầu nguyện sớm tối ở tại gia đình, chưa có nhà thờ, mãi đến năm 1934 thì ông bà chủ xây dựng nên một nhà thờ cùng ở khuôn viên này.

 

Nhà thờ bề dài 6m, rộng 6m60, cao 6m, có 4 gian, 4 cột vuông, 2 cột tròn bằng gỗ, lập ngói Satic, diện tích 105m2, quay về hướng Nam.

Sau khi làm xong nhà thờ, ông bà chủ sắm mua tượng ảnh, sắm sửa mọi thứ trang trí trong nhà thờ để mọi người cầu nguyện sớm tối.

Sắm một tượng Đức Bà, khi ấy gọi là Đức Bà khỏi tội, nay họ ta vẫn cầu nguyện.

 

Khi nhà thờ xây xong, xung quanh người ta không gọi là ấp Đạo nữa vì mọi người có đạo, có cái nhà thờ.

 

Khi ấy, ông bà chủ thành lập một đoàn dâng hoa, từng năm có 10 cháu, có hội trống cái riêng, thanh la, lão bạt, tiểu cổ, tiểu cảnh, có đội bát âm, để thường khi có rước và phục vụ tuần thánh hằng năm rất sầm uất.

 

Lúc ấy, ở họ Nam Viên chỉ có một ông trùm và một ông quản giáo. Đầu tiên có ông cai Hoá người ở họ Cá, Giao  Hoà xứ Bác Đáp làm ông trùm; ông Hường làm ông quản. Sau khi hai ông nghỉ việc, tiếp theo có hai ông thay là: Từ năm 1938 ông Tuyển ở họ Cầu Cha  nh, tên là Hoàng Văn Nghĩa làm trùm họ đến năm 1945. Ông Văn ở xứ Cổ Ra là quản giáo kiêm tư bệnh đến năm 1962 mới nghỉ việc.

 

Nói đến việc các cha  về làm lễ hàng năm của họ: Các cha  về nghỉ ngơi sinh hoạt ở trong ông bà chủ, mọi sự việc các cha  về do ông bà chủ lo liệu cả, dân họ chỉ có việc đến chào mừng cha  mà thôi, vì chưa có nhà phòng.

 

Nói đến việc văn hoá: Ông bà chủ còn lưu tâm đến việc học hành cho dân họ, còn nuôi một thầy giáo và một cô giáo vào thời kỳ 1936-1941, để có ai cần học và các em phải đi học cho biết chữ.

Đến đây xin ghi lại những năm làm nhà thờ:

 

*Năm 1934 ông bà chủ xây dựng nhà thờ.

*Năm 1948-1949 nhà thờ tiêu thổ kháng chiến ( giải họ nhà thờ, e rằng quân đội Pháp chiếm nhà thờ làm căn cứ quân sự chiếm lại nước ta lần nữa).

 

Trong vòng 12 năm (từ 1948-1960) không có nhà thờ sớm tối cầu nguyện, giáo dân tạm lấy kho thóc của ông bà chủ làm nơi cầu nguyện.

 

Đến năm 1960, nhà thờ xây dựng lại, do cha  chính Đinh Huy Quảng lo liệu mọi mặt. Giáo dân rất hăng say do cha  huy động dốc hết nhân lực làm trong vòng từ ngày 7-3-1960 đến ngày 23-7-1960 đã hoàn thành, giáo dân rất sung sướng phấn khởi và khánh thành năm 1961.

 

Từ năm 1960 đến năm 1994 trong vòng 34 năm, nhà thờ xuống cấp, mối mọt, mặt khác lại hẹp quá, giáo dân càng đông nên càng phải giải hạ.

 

Đến khi giải hạ xong còn để 20m để ảnh tượng đằng trước, bà con giáo dân thường trải chiếu ngoài sân sớm tối đọc kinh.

 

Đến năm 1994, đề nghị nhà nước cho được mở rộng thêm, cũng trong khuôn viên này, hình thể bề dài 30m, bề rộng 12m, có tháp chuông nhưng chưc có gian cung thánh, diện tích là: 360m2, quay về phía Đông.

Trong vòng 13 năm từ năm 1994 đến 2006 nhân danh họ đã có 800, càng ngày lại càng đông nên trong họ có chiều hướng xây gian cung thánh và nâng cao mái.

 

Điểm ghi trong vòng xây dựng nhà thờ:

Lần 1: Năm 1934 ông bà chủ xây dựng nhà thờ.

Lần 2: Năm 1960 cha  Đinh Huy Quảng xây dựng.

Lần 3: Năm 1994 cha  Trần Đăng Can xây dựng.

Lần 4:  Năm 2006 lần này là cao nhất: Các cha  Trần Đăng Can, Nguyễn Văn Kinh, Trần Quang Vinh, Lê Quốc Chinh.

Cộng đoàn giáo xứ Nam Viên cùng mọi giáo dân giáo xứ dốc hết nhân lực, tài chính, vật liệu... nay ngôi nhà thờ đã hoàn thành khang trang và cắt băng khánh thành ngày 8-12-2008.

 

Xưa kia họ Nam Viên chưa thuộc xứ nào, là họ lẻ, lại cách xa các giáo xứ, ở nơi đồng bằng chiêm trũng, hàng năm đường đi lại bị lầy lội, có hai họ cỏn con như: họ Văn Trung, họ Hộ Vệ.

 

Hàng năm trước kia, cứ tuỳ tiện đi đến mời các Cha  về làm phúc tu đức một lần hoặc lễ một lần.

 

Thường đi lễ ở xứ Cẩm, xứ Bắc Ninh, họ Dũng Vi, họ Ngô Khê, xứ Xuân Hoà.

 

Vậy xin kể các Cha  coi sóc như sau:

            - Năm 1934: cha  Bảo, cha  Cương, cha  Thái.

            - Năm 1938: cha  Tân quê ở xứ Báo Đáp – Nam Định.

            - Năm 1945: cha  Yên (ở Ngô Khê), cha  Tự.

            - Năm 1950: cha  Thiệu, cha  Tấn ( Bắc Ninh), cha  Lộc.

            - Năm 1956: cha  Đinh Huy Quảng.

            - Năm 1975: cha  Trần Đăng Can.

            - Rồi sau đó đến các cha  tiếp theo cho đến ngày nay:

            Cha Giuse Trần Quang Vinh, cha Giuse Lê Quốc Chinh.

            Cha Giuse Nguyễn Đức Hiểu, cha Fanxicô Xaviê Bùi Quang Thuận.

            Cha Giuse Nguyễn Văn Phong.

.

Tóm tắt lại thời gian kể từ năm 1916-1917: khởi đầu lên làm ấp số gia đình  có 300 hộ, số khẩu trên 150.

 

So sánh đến ngày nay đã có 180 hộ, số khẩu trên 800.

Chúng ta tưởng như thế nào? Đến năm 1949 nhà nước tạm cấp ruộng đất cho họ ta, mỗi khẩu là 1mẫu ,3 sào ruộng cấy.

 

Hình thể và ruộng đất ở họ:

Diện tích cấy có 262m, 7 sào.

Thổ cư có 14m 3 sào.

 

 

Hình thể họ Nam Viên 

-                      Phía Bắc giáp làng Nội viên.

-                      Phía Nam giáp làng Văn Trung.

-                      Phía Đông giáp đường 38 và làng Hương Vân.

-                      Phía Tây giáp ấp Đồng Cỏ và làng Đông Sơn.

 

Nói dến sự cầu nguyện hằng năm:

Lễ hằng năm, họ Nam Viên  có sự khác lạ khác so với các họ khác là:

Có 7 Đấng Thánh quan Thầy:

1.      Lễ ông Thánh Đaminh.

2.      Lễ ông Thánh Vicentê.

3.      Lễ ông Thánh Gioanbaotixita.

4.      Lễ ông Thánh Phêrô.

5.      Lễ ông Thánh Giuse.

6.      Lễ ông Thánh Antôn.

7.      Lễ Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội.

 

Lý do mỗi người ở họ mình quê ở Nam Định đều có Thánh quan Thầy cả riêng của họ mình. Đến nay đã đi làm ấp cũng mang theo thánh quan Thầy của mình ở quê quán mà nhớ đến, những ngày lễ kính hàng năm mà xin nguyện lễ. Như vậy là có 7 quan Thầy, mà chỉ có lễ ngày 8-12 hàng năm là quan Thầy chung của dân họ tức là lễ kính Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội mà thôi.

 

Vũ Đình Thảo biên tập.

Những vị tham gia đóng góp:

o        Phạm Văn Hải.

o        Đỗ Lương Thiện.

o        Vũ Minh Thịnh.

 

Thông qua ban hành giáo Tân Cựu và các đoàn thể:

o        Họ Mân Côi.

o        Họ Dòng Ba.

o        Họ Gia Trưởng.

Các đoàn thể dân họ họp khánh thành tại phòng khách hồi 14giờ chiều ngày 10/10/2008.

 

Kính mong mọi người sẽ duy trì lưu giữ đừng để mất rách nát.

Hàng năm xin ban hành giáo phổ biến để mọi người dân họ nắm được kỷ niệm này.

 

Xin tỏ lòng biết ơn.

Lược sử này các cụ, các ông, các bà, anh chị em nào còn thu lượm thêm được.

Xin đóng góp và bổ túc thêm cho bản viết này tốt đẹp hơn.

 

 

  Người viết

  Vũ Đình Thảo