NHỮNG VỊ THÁNH TỬ ĐẠO CƯ TRÚ TẠI XỨ KẺ MỐT


Hội thánh được lớn mạnh khi đã được tưới gội bằng dòng máu của các vị anh hùng tử đạo đã chấp nhận hy sinh vì đức tin của mình. Hội thánh Việt Nam cũng được dòng máu của hàng ngàn vị tử đạo hào hùng đã tưới gội lên, trong đó giáo phận Bắc Ninh đã góp phần vào sức sống mầu nhiệm ấy.
Cuốn sách nhỏ này, xin tóm lượt danh sách các vị tử đạo đã sống và làm việc tại giáo xứ Kẻ Mốt (Đức Trai) – tỉnh Hải Dương – giáo phận Bắc Ninh, trong những giai đoạn, thời kỳ cấm cách đạo. Các sự kiện được dựa theo nguyên bản các chứng tích "Thiên hùng sử" của Giáo Hội Việt Nam.
Mong quý độc giả xem đây là tài liệu quý để lưu truyền cho thế hệ hậu lai, để noi theo tấm gương của các ngài mà phát huy tinh thần, đời sống đạo với đức tin Kitô giáo.


 

Sơ lượt về giáo xứ Kẻ Mốt

Cái tên “Kẻ Mốt” là ngôn ngữ của từ Nôm, bên cạnh đó Kẻ Mốt còn được gọi là “Đức Trai” theo tiếng Hán.
Xứ Kẻ Mốt được xem là một trong những xứ cổ của giáo phận Bắc Ninh, cổ về sự hình thành và đời sống đức tin. Kẻ Mốt chỉ có một họ lẻ nằm bên tả ngạn sông Thái Bình, đó là họ Thổ Đức hay còn gọi là Trạm Du. Còn Kẻ Mốt thì nằm bên hữu ngạn của sông Thái Bình, bên ngoài bờ đê. Về địa lý, Kẻ Mốt nằm sát bên con sông lớn, nên đã trở thành địa điểm cho các thừa sai đặt bước chân đầu tiên khi ngược dòng sông Cái từ cửa biển vào vùng nội địa.
Từ năm 1841 trở về trước, các đức cha của giáo phận Đông đàng ngoài đặt tòa giám mục tại Phố Hiến, và các xứ thuộc tỉnh Nam (giáo phận Bùi Chu sau này). Đến năm 1841, thời Đức cha Hermosila Liêm O.P. ngài đã dời tòa giám mục về đặt tại Kẻ Mốt. Thời gian này, dòng Đaminh, và các lớp chủng viện La-tinh, Lý đoán cũng về theo, và đặt trụ sở tại Kẻ Mốt. Vậy là xứ Kẻ Mốt đã trở thành Tòa giám mục của địa phận Đông và đã có chủng viện, có dòng tu.
Chủng viện Kẻ Mốt tồn tại từ năm 1841 đến năm 1883. Trong thời gian 42 năm, chủng viện Kẻ Mốt đã đào tạo được một số đông các linh mục cho giáo phận đàng đông.
Xứ Kẻ Mốt có số giáo dân tính vào năm ấy gần 1.000 người. Thời kỳ Đức cha Liêm đặt trụ sở tại Kẻ Mốt là thời kỳ sôi động của giáo hội Việt Nam, là thời bách hại đạo dưới triều Thiệu Trị và Tự Đức. Và các đức cha, linh mục, chủng sinh và nhiều giáo dân sống tại Kẻ Mốt đã hy sinh vì đức tin Kitô giáo.
Năm 1954, xã hội lúc này có xu hướng “di cư vùng kinh tế mới” một số đông giáo dân Kẻ Mốt đã bỏ làng, họ đạo để di cư vào nam. Họ tập trung sống chủ yếu ở hai nơi : Xóm Chiếu và Tây Ninh.
Một thời gian sau, vào những năm 1970, chính sách khai thông dòng chảy sông Thái Bình, nhà thờ cũng như giáo dân di cư lên vùng trên cách đó khoảng 7km, (thuộc xã Cẩm Sơn hiện nay). Năm 1978, cha Giuse Trần Đăng Can, linh mục tòa giám mục phụ trách khởi công xây dựng ngôi nhà thờ đầu tiên cho giáo dân Kẻ Mốt tại vùng đất mới di lên, để giáo dân có được nơi thờ phượng Thiên Chúa. Năm 1989, ngài được bổ nhiệm chính xứ Tử Nê, và coi sóc toàn hạt Gia Lương, trong đó có giáo xứ Kẻ Mốt.
Sau hơn 20 năm, ngôi nhà thờ về cơ sở đã xuống cấp. Lúc này cha Giuse Trần Đăng Can đang trong gia đoạn nghỉ hưu, nhưng ngài vẫn tiếp tục những công việc mục vụ, xây dựng cơ sở. Năm 2003, cha cùng với Ban hành giáo và giáo dân đã khởi công xây dựng lại toàn bộ công trình của giáo xứ : từ nhà thờ, đến nhà phòng, các phòng học và phòng ở cho giáo xứ. Đến nay, giáo xứ Kẻ Mốt đã có được những cơ sở vững chắc, tuy số giáo dân chưa được phát triển, nhưng tin rằng từ nay giáo xứ Kẻ Mốt sẽ có đời sống tốt hơn vào đức tin nơi Thiên Chúa, vì chính Ngài đã điều hành và hướng dẫn con người Kẻ Mốt từ Bắc chí Nam sống trong tình hiệp thông và yêu thương.


CHÍNH SÁCH CẤM ĐẠO

* Thời vua Minh Mạng
Năm 1820 (tháng 01 – Canh Thìn), thái tử Đảm lúc ấy 28 tuổi, lên ngôi vua kế vị vua cha tại Huế, lấy tước hiệu là Minh Mạng. Nhà vua là một người thông minh, hiếu học và năng nổ. Vua được trau dồi bởi học thuyết của Khổng Mạnh, và học thuyết Nho giáo đã thấm sâu vào trong trí não mà ông cho là một thứ đạo của con người, nên ông không muốn chấp nhận điều gì khác với đạo Nho. Sau khi đã ổn định tình hình nội bộ, năm 1823 ông ra lệnh cấm đạo đầu tiên :
“Tà đạo của tây phương làm hại lòng người. Đã lâu nay, nhiều chiếc tàu của Châu âu sang đây buôn bán thường để lại những đạo trưởng. Bọn này làm mê hoặc lòng dân và phá hoại phong tục. Như thế chẳng phải là cái họa lớn cho nước ta sao ? Ấy vậy ta nên ngăn cấm điều bậy bạ ấy để dân ta quay về chính đạo”
Tuy thế, nhưng vua chưa dám làm mạnh tay, vì có nhiều vị quan chức không đồng quan điểm. Nhất là tả quân Lê Văn Duyệt, tổng trấn Gia Định đầy quyền hành và uy tín. Nên nhà vua chỉ triệt để cấm các đạo trưởng nước ngoài vào truyền đạo, tập trung các đạo trưởng trong nước vào một nơi để khỏi ảnh hưởng  cho dân chúng. Một số thừa sai ở Huế bị tập trung, các thừa sai khác thấy vậy nên lẫn trốn hết. Vì ở miền Bắc dân chúng chưa hoàn toàn phục tùng nhà vua, nên vua chưa dám áp dụng mạnh, vì thế Hội thánh vẫn được bình an.
Các vị quan ở miền Bắc cũng có lời nhận xét “Thật không còn ai đáng tin cậy, ngoại trừ người công giáo. Chỉ có họ là người công dân trung thành, và đấy là điều chúng ta phải hãnh diện” Một thừa sai cũng cho biết “Chúng tôi thi hành các thừa tác vụ, nên không có gì phải lo sợ. Chúng tôi cứ làm những bổn phận mà chẳng ai nghĩ đến thi hành lệnh vua”.
Cách cai trị của vua Minh Mạng rất độc đoán, làm cho nhiều tầng lớp trong xã hội lúc bấy giờ phẫn nộ, nổi dậy chống đối như : tầng lớp nông dân, trí thức đã có những phong trào rộng lớn từ bắc đến nam.
Đối nội, vua đàn áp các phong trào nổi dậy và củng cố quyền hành. Đối ngoại, vua từ chối quan hệ với Pháp và Hoa Kỳ. Cuối năm 1832, vua ra chỉ thị kê khai những người công giáo trong hàng ngũ thân cấm binh (đội ngũ bảo vệ hoàng cung), và bắt họ bỏ đạo. Đội trưởng Tống Viết Bường và 6 anh em khác không chịu bỏ đạo, khiến vua nổi giận : “cả nước không ai dám trái lệnh trẫm, thế mà bọn đê hèn này dám cưỡng lại. Trẫm quyết sẽ tiêu diệt cho bằng hết”.
Ngày 06-01-1833, một chiếu chỉ cấm đạo được công bố :
“Minh Mạng thánh tổ hoàng đế có lời cùng toàn thể thần dân. Đã từ lâu có nhiều người Châu âu đến giảng đạo Datô, lừa dối ngư dân, dạy chúng có Thiên đàng, hỏa ngục. Chúng không thờ phật, không thờ cúng ông bà, thật là quân vô đạo. Hơn thế, chúng dựng nhiều nhà thờ trong đó trai gái ra vào lẫn lộn mục đích là để quyến rũ đàn bà con gái. Chúng con móc mắt những người ốm đau. Thật là điều trái với luân thường đạo lý. Năm ngoái, trẫm đã phạt 2 làng theo đạo này, làm thế là để thần dân biết thánh ý của trẫm, để mọi người xa lánh tội ác này mà trở về đàng ngay. Thần dân hãy nghe lời trẫm : có nhiều kẻ chỉ vì ngu xuẩn mà bị lôi cuốn theo đàng tà. Tuy nhiên, chúng còn lương tri để biết được phải trái, đặng trở về chính lộ dễ dàng, nên trẫm muốn dùng lời giảng khuyên răn chúng. Trường hợp chúng còn cố chấp, trẫm sẽ dùng đến hình phạt. Vì vậy trẫm truyền cho tất cả những ai theo tà đạo này, từ quan chí dân, nếu còn biết sợ uy quyền trẫm, thì hãy thật lòng cải tà qui chính. Các quan phải kiểm soát các đạo đồ trong địa hạt mình xem chúng có tuân thượng lệnh không, và bắt chúng đạp lên thập tự. Các đạo trưởng, đạo quán phải triệt hạ hết. Sau này còn ai theo đạo ấy thì phải nghiêm trị, vì trẫm muốn tiêu diệt tận gốc tà đạo. Đó là thánh ý của trẫm, thần dân phải nghe theo và thi hành”.
Ngày 15-7-1834, nhà vua lại ban hành một chiếu chỉ khác, trong đó có “thánh dụ huấn địch thập điều” (1 giữ luân lý ; 2 chính tâm thuật ; 3 chăm bản nghiệp ; 4 chuộng tiết kiệm ; 5 hậu phong tục ; 6 dạy con em ; 7 học đạo chính ; 8 tránh gian dâm ; 9 giữ pháp luật ; 10 làm điều thiện). Vua ra lệnh cho các hương lý tập trung dân ở đình làng để học thập điều (10 điều vua ban) và học thật kỹ điều thứ 7, là điều chống báng đạo công giáo.
Thế nhưng, các quan ở Đông đàng ngoài không nhiệt thành lắm với chiếu chỉ của nhà vua, nên Hội thánh lúc bấy giờ vẫn bình an. Mãi đến năm 1837, vua Minh Mạng ra lệnh cho tổng đốc Nam định là Trịnh Quang Khanh phải bắt hết các đạo trưởng Tây và Việt, nếu không bắt được thì y phải bị chịu phạt. Lúc này, tình thế nguy kịch, các thừa sai và giáo dân lâm vào tình cảnh khốn đốn. Và có rất nhiều vị đã chết tử vì đạo trong thời vua Minh Mạng.


* Thời vua Tự Đức
Sau vua Minh Mạng, đến đời vua Thiệu Trị cũng ra lệnh cấm đạo, nhưng không gay gắt lắm. Đến năm 1847, Tự Đức lên ngôi vua, từ vua đến các quan trong triều không am hiểu thời thế, chỉ biết từ chương khoa cử, ngạo nghễ cho mình là hơn người, cho thiên hạ là dã man, là mọi rợ. Do đó, vua Tự Đức và triều đình đi vào vết xe cũ của vua Minh Mạng và vua Thiệu Trị : bế môn tỏa cảng và cấm đạo công giáo. Chính sách mù quáng và lỗi thời này là nguyên nhân gây nên cảnh nước mất nhà tan, đưa cả dân tộc vào vòng điêu linh.
Khi mới lên ngôi, vua Tự Đức ân xá cho các tù nhân. Tuy nhiên, nhiều giáo sĩ và giáo dân vẫn còn bị giam giữ, có những vị chết trong tù hoặc ở nơi lưu đày. Lên ngôi chưa được một năm. Năm 1848, vua Tự Đức ra chiếu chỉ cấm đạo : “Đạo Datô trước kia hai vua Minh Mạng và Thiệu Trị đã cấm, thật là một đạo tà, vì ai theo đạo ấy không còn phụng thờ tổ tiên, lại móc mắt người sắp chết để làm bùa ngải mê hoặc lòng người. Họ còn làm nhiều điều dị đoan ghê tởm khác. Vậy các tây dương đạo trưởng là kẻ có tội nhất, thì phải buộc đá vào cổ ném xuống biển. Ai bắt được một người trong bọn họ sẽ được thưởng 30 nén bạc. Các đạo trưởng người Việt nhẹ tội hơn thì sẽ tra hỏi xem có bỏ điều lầm lỗi không, bằng không chịu hãy đem khắc tự vào mặt và đày đi những nơi nước độc. Những người dân theo tà đạo này mà không chịu bỏ đều là những đứa ngu dốt, khốn nạn, bị lừa dối. Vậy trẫm vì lòng thương dân, truyền không nên chém giết hoặc đem đi đày, hay bỏ tù chúng, các quan chỉ nên trừng trị nghiêm ngặt, rồi lại cho về quê quán”.
Chính năm ấy, tòa thánh chia một phần phía nam của giáo phận đông đàng ngoài lập thêm một giáo phận mới gọi là giáo phận Trung. Ít lâu sau, nạn dịch lớn hoành hành khắp nước, giết chết gần 2 triệu người. Nên chiếu chỉ cấm đạo chưa áp dụng triệt để.
Tháng 1 năm 1851, hoàng thân Hồng Bảo là anh vua Tự Đức. Vì trước đó đã không được chọn làm vua, nên tổ chức một cuộc đảo chính, nhưng không thành. Lúc này, bọn triều thần vu cáo cho người công giáo thông đồng và giúp đỡ, nên  tháng 3-1851 vua Tự Đức ra chiếu chỉ : “Đạo Datô là đạo của Tây, đạo này cấm thờ cúng tổ tiên và thần phật. Để lừa bịp nhân tâm và mê hoặc tín đồ, đạo trưởng hay nói đến Thiên đàng và nước thánh. Các kẻ rao giảng đạo này, vì đã biết luật nước không dung tha những sai lầm như thế, nên mới trình bày cho dân chúng hình ảnh Datô chịu đóng đinh, để xúi giục người ngu dốt sẵn lòng chết mà không bỏ đạo. Trẫm đã chỉ thị cho các quan thượng thư cứu xét kiến nghị của cơ mật viện xin cấm tà đạo Datô. Nay, để sáng tỏ chính đạo, cần phải bắt và liệng xuống sông bọn đạo trưởng Tây cũng như Việt, dầu chúng chà đạp hay không chà đạp thập tự. Phải chặt chúng làm hai, để hết mọi người biết luật pháp nghiêm minh của nước chúng ta. Những kẻ chứa chấp tây dương đạo trưởng, bất luận lớn hay nhỏ, chứa chấp trong mọi thời gian ngắn hay dài, đều cho chặt làm hai, rồi ném xuống sông, chỉ trừ những trẻ nít chưa đến tuổi khôn lớn, chúng chỉ phải lưu đày”.
Cuộc cấm đạo độc ác và dã man này đã diễn ra và chiếu chỉ vụ “phân sáp” năm 1861ø đã giết hại biết bao linh mục và giáo dân từ Bắc vào Nam.



NHỮNG VỊ ANH HÙNG TỬ ĐẠO

Thánh Vinhsơn Đỗ Yến - linh mục

Cha Đỗ Yến quê ở Trà Lũ – Nam Định, sinh năm 1764, ngài vào sống trong nhà Đức Chúa trời để giúp cho cha Obelar Khâm từ nhỏ, cho đến ngày được thụ phong linh mục. Dưới thời Cảnh Thịnh, đã một lần cha bị bắt, giáo dân phải bỏ tiền chuộc mới được. Trong thời bình dưới thời Gia Long, cha xin vào dòng Đaminh và khấn ngày 22-7-1808. Cha Yến là một con người có tính tình hiền hòa, đơn sơ, vui vẻ và bác ái. Cha có một thân hình trông khá đẹp, vẻ đẹp ấy luôn diễn tả nét đẹp tinh thần và đời sống đạo hạnh của cha. Cha coi sóc hai giáo xứ Kẻ Mốt và Kẻ Sặt trong thời gian rất lâu.
Cha đau lòng khi chứng kiến cảnh đoàn chiên mình chịu cưỡng bách phải hạ ngôi nhà thờ khang trang, do công sức và tiền bạc họ đóng góp để xây dựng lên. Vì thương đoàn chiên cha quyết tâm ở lại với dân, nay trọ nhà này, mai tránh sang nhà khác. Ban đêm lo cử hành phụng vụ dâng thánh lễ, ban ngày gặp gỡ giáo dân, an ủi động viên, khích lệ họ về đời sống đức tin và ban phát các Bí tích cho họ. Trong thời gian bọn quan lại truy bắt Đức cha Hermosila Vọng (Liêm) không được. Trịnh Quang Khanh biết cha ở Kẻ Sặt và Kẻ Mốt thuộc tỉnh Hải Dương, bèn liên lạc với các quan ở Hải Dương để bắt cha. Các quan cho tăng cường kiểm soát chặt chẽ, quyết lùng bắt người cho bằng được, hăm dọa tàn phá bình địa dân làng. Vì muốn giáo dân được yên ổn, vị mục tử âm thầm ra đi, mang theo nỗi niềm đau xót phải xa cách đoàn chiên yêu quí. Cha tín thác mọi sự cho bàn tay Quan Phòng của Thiên Chúa.
Cha đến họ Thứa (Đào Du) xã Trung Lập – Hưng Yên, nhưng thấy nơi đây không đảm bảo, lại tiếp tục lên đường đi Lực Điền – Hưng Yên. Đường xa mệt mỏi, cha dừng chân nghỉ dưới bóng bụi tre xanh. Một khách bộ hành ngang qua hỏi : “Bố già đi đâu, mà còn ngồi đây ?” Để giấu tung tích, cha giả vờ hỏi xem đường nào đi Kẻ Sặt, hướng nào về Lực Điền. Người khách chỉ dùm rồi bỏ đi. Tiếp tục cuộc hành trình, ngày 6 tháng 8 cha gặp ông cai Phan. Ông này làm bộ thương cảm, nài nỉ cha vào ở trong nhà mình. Và ông đã trở mặt, bắt nộp cha, cho đóng gông và chuẩn bị giải về thị xã Hải Dương. Khi hay tin, giáo hữu ở Kẻ Sặt và Lực Điền đem trâu và tiền đến chuộc. Nhưng ông cai nhất định không cho, vì ông hy vọng sẽ được quan trên khen thưởng nhiều hơn. Dùng tiền để chuộc cha không được, giáo dân tập trung dùng lấy sức người để giải cứu cho cha. Cha Yến phải hết lời khuyên can, mới cản được giáo dân ở hai họ đạo bỏ ý định dùng võ lực để giải thoát cha.
Tại thị xã Hải Dương 3 ngày sau, cha Vinhsơn Yến được đưa ra trước giảng đường. Quan tổng đốc tỉnh này vốn có lòng nhân hậu, lại có lời can thiệp của điều Hàn, ông không muốn vấy máu người có đạo. Ông xin vị linh mục tự khai là lang y để ông phóng thích. Nhưng cha Yến trả lời : “Không, tôi không phải là thày lang. Tôi là thày cả chuyên giảng đạo và tế lễ Thiên Chúa. Tôi sẵn sàng chết vì lẽ đó, chớ không khai man để được sống”.
Quan tìm cách khéo để trả tự do cho cha Yến. Ông truyền vẽ vòng tròn chỗ cha đứng, bảo cha đi vòng đó được kể như bước qua thập tự. Cha vẫn từ chối : “làm thế có khác gì tôi chối đạo”. Quan thấy không thể thuyết phục được vị linh mục, bèn làm sơ tấu vào kinh. Nhưng vì không muốn đích thân xử án người vô tội, quan xin triều đình cho dẫn độ cha về nguyên quán thuộc tỉnh Nam định. Vua Minh Mạng không chấp thuận và kết án tử hình ngay. Bản án phê ngày 20-6-1838, và bản ấy về tới Hải Dương ngày 30-6-1838, với nội dung sau “Đỗ Yến là người bản quốc đạo trưởng Datô, bị bắt mà vẫn không chịu bỏ đạo. Thật là người ngu muội cố chấp, không theo đường phải, vậy trảm quyết ngay, không có giải về Nam định”. Trong 3 tuần lễ bị giam, nhờ sự can thiệp của ông điều Hàn, cha Vinhsơn không phải mang gông, xiềng, còn được phép nhận quà của các giáo hữu đến thăm hỏi. Ngày đêm cha chuyên chăm cầu nguyện và trầm lặng suy niệm lâu giờ.
Ngày 30-6-1838, quan tổng đốc thi hành bản án vừa nhận được. Cha Vinhsơn hiên ngang tiến ra pháp trường ở ngã tư Bình Lao, cách thành Hải Dương 1km về hướng phía tây. Gương mặt hiền hậu của vị linh mục với thân hình cao đẹp, khiến nhiều người phải kính phục và thương xót. Tới nơi, cha Vinhsơn quỳ gối cầu nguyện thật sốt sắng trong ít phút, rồi xin lý hình thi hành phận sự. Chỉ một nhát gươm vung lên, đầu vị tử đạo rơi xuống đất. Quan tổng đốc tặng một tấm vải và dạy khâu thủ cấp vị tử đạo vào với thân mình, rồi cho phép tín hữu họ Bình Lao đưa về an táng. Tám tháng sau, tín hữu cải táng về nhà thờ Thọ Ninh.
Với đời sống dâng hiến trọn vẹn, với đức tin mãnh liệt vào Thiên Chúa, cha Vinhsơn đã trở nên chứng nhân anh dũng cho Chúa, và là tấm gương tuyệt mỹ của đức tin Kitô giáo. Cha trọn hưởng 74 tuổi đời nơi dương thế.

(Cha Vinhsơn Đỗ Yến)

 

 

 

Thánh Phêrô Nguyễn Văn Tự – linh mục

Cha Phêrô Nguyễn Văn Tự, sinh năm 1796 tại làng Ninh Cường – Nam Định. Với ý chí dấn thân theo Chúa, vào được sống trong nhà chung từ nhỏ, cha được thụ phong linh mục năm 1826 vừa tròn 30 tuổi, và năm sau cha gia nhập vào dòng Đaminh. Suốt 12 năm sống đời linh mục, cha Phêrô luôn tận tụy với sứ vụ tông đồ, không quản ngại khó khăn, ngài luôn đối xử hòa nhã và rất mực yêu thương mọi người. Cha đã coi sóc nhiều giáo xứ, trước khi ngài đến coi xứ Kẻ Mốt thuộc giáo phận Bắc Ninh. Cuộc bách hại đạo diễn ra gay cấn, cha phải tìm mọi cách và lén lút để thực hiện mục vụ. Một thân hào tên Quang đã cho cha đến trú ẩn tại vườn nhà của ông.
Sáng ngày 29-6-1838, cha Phêrô Tự vừa dâng thánh lễ xong, bất ngờ bọn lính kéo đến, cha được anh em bổn đạo đưa lánh sang làng bên. Nhưng bọn lính lục soát tìm thấy áo lễ và chén thánh của cha, chúng tập họp dân chúng để tra khảo. Nhiều người giáo dân bị đánh đập nhưng vẫn không khai chỗ ở của cha Phêrô, đến lượt ông lang Ninh mới bị dọa đánh, thì ông đã vội vã khai nộp cha. Vì các quan nghe báo cáo danh tiếng Trùm Vọng (tên của cha Hermosila Liêm trước ngày tấn phong giám mục) đã bỏ tỉnh Đông sang tỉnh Bắc. Cả tỉnh bắc đại náo về cuộc truy lùng người đứng đầu sổ này của triều đình. Bọn lính đến vây kín làng Kẻ Mốt, nhưng cha Vọng đã nhanh chân quay về tỉnh Đông. Và bù lại, chúng bắt được cha Phêrô Tự. Cùng bị bắt chung với cha Phêrô là thầy giảng Đaminh Úy. Chúng dẫn cha đến huyện Lương Tài. Quan huyện ngỏ ý muốn tiền chuộc, nhưng cha bình tĩnh trả lời : “Đối với tôi, bị bắt vì đạo là một hồng ân Chúa ban, tiền bạc thì tôi không có, nếu làm phiền hà các giáo hữu, thì tôi lại càng không muốn.”
Ngày hôm sau, cha Phêrô được gọi đến văn phòng tòa án, để khai tên các thừa sai mà cha biết. Song, cha đứng im lặng không nói gì, bấy giờ trong số nhân viên tòa án có tên Tôn, một người bội giáo, nói một cách xấc láo “Ông phải khai tất cả, nếu không sẽ phải ăn đòn”. Cha đáng kính mắng lại “Mày có quyền gì mà đánh tao, cứ để tao gặp quan, mày sẽ biết”. Tên Tôn tức giận dẫn cha đến tòa án, nhưng để trả thù, hắn bắt cha phải đứng ngoài sân dưới ánh nắng gắt của mùa hè. Khi quan đến, cha Phêrô được mời vào, ngồi chiếu tử tế. Bằng một giọng nói ôn tồn lịch sự, quan yêu cầu cha khai tên các giáo sĩ trong địa phận. Cũng bằng một giọng điệu lịch sự ôn tồn, cha thong thả khai tên hai đức cha và bảy nhà truyền giáo, quan nghe được mừng lắm. Đến sau mới biết các vị được nêu ra thì đã bị bắt cả.
Trong lúc cha và quan án nói chuyện với nhau vui vẻ, thì lính dẫn đến một thày giảng tên là Phanxicô Savie Mậu. Khi cha Phêrô bị bắt thì thày đang ở giáo xứ Kẻ Mốt. Được tin cha bị bắt, thày lên tỉnh để mong tìm tin tức. Giáo dân gửi thày trọ ở nhà một người lương ở bên kia sông, nghĩ rằng lính ẽ không dám khám xét. Ai ngờ chính chủ nhà lại đi báo quan để kiếm tiền thưởng. Thày được dẫn đến Bắc Ninh quan hỏi thầy là ai? Thày đáp : “Bẩm quan, tôi là một môn đệ quan trọng của cha Tự” cha Phêrô nhìn thày làm hiệu bảo đừng khai rõ, để còn có thể chuộc được, nhưng thày nói nhỏ với cha : “xin cha thương con, nhận con làm môn đệ cha, để con cũng được chết vì đạo”.
Ngày 10 tháng 7, cha Phêrô Tự lại phải ra tòa một lần nữa. Lần này quan bảo cha cắt nghĩa các đồ thờ, chén thánh và áo lễ, những thứ đó bọn lính đã tịch thu được ở Kẻ Mốt. Cha nắm lấy cơ hội, giảng đạo lý Công giáo cho các quan nghe, cha say sưa nói về ý nghĩa của những đồ thánh mà chúng đã thu khi đến bắt cha như bài giảng huấn, bài giáo lý dành cho bổn đạo. Song một tin làm cha hết sức buồn rầu, khi nghe quan án báo tin cho biết : hai ngày nữa sẽ gọi các tín đồ bị bắt ra tòa, để mọi người bước qua thánh giá, vì có nhiều người bằng lòng xuất giáo. Khi trở về ngục, suốt 2 ngày liền, cha khuyên bảo mọi người can đảm giữ vững đức tin bằng cầu nguyện và ăn năn sám hối. Đến ngày ra tòa, quả nhiên ba trong bốn ông trùm xứ đều bước qua thánh giá, chấp nhận khoá quá, duy chỉ có cụ già 75 tuổi, tức là lương y Giuse Hoàng Lương Cảnh, là một thành viên của hội dòng Ba Đaminh, cũng là đầu mục làng Thổ Hạ là kiên quyết không bước qua thập tự, giữ vững đức tin vào Thiên Chúa.
Tổng đốc Bắc Ninh sau một ngày hỏi cung các chứng nhân, đã đệ đơn vào triều đình xin được xử trảm đạo trưởng Nguyễn Văn Tự, cùng với lương y Hoàng Lương Cảnh. Nhưng nhà vua phúc đáp tất cả phải được tra hỏi lại, nếu bỏ đạo sẽ được tha, nếu không sẽ phải chết hết.
Ngày 9 tháng 8, cha Phêrô và các bạn lại được kêu ra tòa. Trong một gian nhà rộng lớn, một bên là Thánh giá đặt dưới đất, một bên là những dụng cụ khổ hình, quan tổng đốc chủ sự phiên tòa, khi thì tỏ ra mềm dẻo để dụ dỗ, khi thì nổi nóng để đe dọa, bắt các chứng nhân lần lượt bước qua Thánh giá.
Trước hết, quan ôn tồn bảo cha Phêrô Tự bước qua ảnh thánh, ông nói ông thực tình không muốn kết án cha, và muốn cha sống những ngày tháng còn lại được an nhàn lúc tuổi già. Bằng một giọng khiêm tốn, vị mục tử trả lời : “là một linh mục trong đạo, không lẽ tôi lại phạm tội nặng như thế, để rồi không ai có thể tha cho tôi được. Bẩm quan, tôi không dám đâu”. Quan nói “ông không muốn thì thôi, sẽ không ai làm phiền ông”.
Tòa án phúc trình kết quả vào triều đình. Ngày 02-9-1838 vua Minh Mạng tuyên án như sau : “Đạo trưởng Nguyễn Văn Tự và đạo mục Hoàng Lương Cảnh phải trảm quyết tức khắc, còn năm tên Hà Trọng Mậu, Bùi Văn Úy, Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Văn Mới và Nguyễn Văn Vinh phải giam giữ cẩn thận, để rồi cùng chịu án nói trên”.
Ngày 05-9-1838, bản án ra tới Bắc Ninh, các quan tuân lệnh thi hành. Cha Phêrô và cụ Giuse được dẫn đi xử, tỏ ra vui mừng lắm, cha luôn tươi cười nói hớn hở chào tạm biệt các đồng bạn và hứa hẹn gặp nhau trên Thiên Đàng. Cha lấy áo dòng trắng ra mặc. Bộ áo trắng lộng lẫy của cha dòng gây sự chú ý cho mọi người, khi quan hỏi ý nghĩa về bộ áo, cha nói : “Đây là bộ áo một dòng tu lớn trong Giáo hội mà tôi hân hạnh là phần tử, màu trắng chỉ sự trinh khiết mà chúng tôi yêu quý nhất, màu đen chỉ đức thanh bần mà chúng tôi phải sống suốt đời”. Rồi cha cầm tượng Chúa Chuộc tội đeo trên mình, nói tiếp : “Còn đây là Đấng Cứu Thế, Người đã phải đóng đinh vì tội thiên hạ, nên hôm nay cũng vì Danh Người mà tôi bằng lòng chịu chết. Vậy quan cho phép tôi được mang bộ áo này, cầm theo tượng thánh khi đi xử”. Quan không nói gì, tỏ ý đồng ý cho cha mặc lấy bộ áo dòng trong lúc chết.
Trên đường đến pháp trường, binh lính xếp hàng đi hai bên. Cha Phêrô ngồi chung một cũi với cụ trùm, tay cầm tượng Chúa Chuộc tội. Cha và cụ trùm như hai vị sứ giả Tin Mừng đang hiên ngang đi vào cõi chết, nét mặt cha luôn thể hiện niềm tự hào, niềm hạnh phúc nếu được chết vì Danh Chúa. Cha cùng với cụ trùm bắt đầu đọc kinh cầu chiu nạn. Khi đến nơi, hai đấng được quỳ trên hai chiếc chiếu được đặt sẵn, và hai lý hình thực hiện bản án độc án của triều đình. Mọi người chen nhau thấm lấy máu của hai đấng anh hùng. Một viên quan lượm được tượng Chúa chuộc tội của cha Tự, đưa về tặng cho cha Hermosila Vọng. Xác thánh cha Phêrô bị giáo dân và lương dân tranh nhau, giáo dân phải bỏ 60 lạng bạc để chuộc, đem về an táng tại họ Nghĩa Vụ thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Người anh hùng của Chúa đã một mực phó thác trọn vẹn  cho bàn tay Chúa Quan Phòng, và tin tưởng tuyệt đối. Hạnh phúc nếu được chết vì Danh Thánh Chúa. Ngài hưởng  42 tuổi đời nơi dương thế.


(Cha Phêrô Nguyễn Văn Tự)

Thánh Fanxicô Savie Hà Trọng Mậu – thày giảng
Thánh Đaminh Bùi Văn Úy – thày giảng
Thánh Tôma Nguyễn Văn Đệ – thợ may
Thánh Augustinô Nguyễn Văn Mới – lao công
Thánh Têphanô Nguyễn Văn Vinh – tá điền


Sau cái chết của cha Phêrô Nguyễn Văn Tự, năm chứng nhân trên còn lại trong ngục thì buồn rầu lắm, chỉ mong ngày được theo bước chân của cha Phêrô. Thầy Fanxicô Mậu trở thành người hướng dẫn và động viên, củng cố đức tin cho 4 anh em đang cùng chung số phận : thày Đaminh Úy ; Tôma Đệ ; Augustinô Mới ; Têphanô Vinh.
Thày Fanxicô Savie Hà Trọng Mậu sinh năm 1790 tại Kẻ Diền – tỉnh Thái Bình. Mậu được cha mẹ cho đi tu, lên chức thày giảng, vào dòng Ba Đaminh, đã đi giúp nhiều giáo xứ trước khi bị bắt, thày có một kiến thức giáo lý khá vững chắc. Khi cha Tự bị bắt, lúc này thày đang giúp cho họ Nội thuộc giáo xứ Kẻ Mốt. Được tin cha Tự bị bắt, thày lên tỉnh Bắc Ninh để dò xét tin tức. Thày được giáo hữu cho trú nhờ nhà của một lương dân. Ai ngờ chính chủ nhà đi báo, và rồi thày cũng bị bắt và dẫn lên trên tòa án cùng lúc gặp cha Phêrô tại tòa án. Cha muốn cứu thày, nên làm hiệu để cho thày đừng thừa nhận quen biết cha, nhưng ngược lại, thày tự xưng danh và muốn được chết cùng cha cho trọn đức tin. Thày mạnh dạn xưng mình là thày dạy giáo lý, và là tôi tớ của Đức Chúa trời, và là người môn đệ trung tín với cha Phêrô. Thày không sợ bất cứ hình phạt nào, luôn miệng động viên bốn anh em cùng chung với thày hãy tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, và thày mong ước sớm được đi gặp lại cha Phêrô Tự.
Thày Đaminh Bùi Văn Úy sinh năm 1812 tại họ Tiền Môn, giáo xứ Kẻ Rèm – Thái Bình. Từ bé thày Úy sống trong nhà xứ với cha Phêrô Tự, được học lên chức thày giảng và gia nhập dòng Ba Đaminh. Thày là cánh tay rất đắc lực của cha Tự trong công cuộc truyền giáo. Thày dạy giáo lý cho tân tòng, thăm viếng bệnh nhân, giúp đỡ những người nghèo túng, tự mình đào hầm để cho cha xứ trú ẩn. Hầm trú ẩn thày làm 2 ngăn : ngăn trong dành cho cha xứ, ngăn bên ngoài thì thày ở để canh gác. Thày nói : “nếu các quan tìm bắt, tôi sẽ ra trước nộp mình để cha khỏi bị bắt, đặng tiếp tục phục vụ anh chị em”. Nhưng quan quân đã bắt được thày và cả cha Phêrô trong cùng một ngày. Cha Tự muốn cứu thày, nhưng thày lại mạnh dạn nói : “xin cha cứ nói con là thày giảng, may ra con được tử đạo với cha”. Với lời kiên quyết, và niềm tin vào Thiên Chúa, thày mong muốn cùng được chết như cha Phêrô Tự, để được Chúa đón thày vào nơi cuộc sống vĩnh hằng.
Ba anh chàng giáo dân cùng quê ở làng Bồ Trang, giáo xứ Bồ Ngọc, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Vì cuộc sống kiếm kế sinh nhai, ba anh đã theo di dân lên tỉnh Bắc lập nghiệp tại làng Đức Trai, giáo xứ Kẻ Mốt.
Tôma Nguyễn Văn Đệ sinh năm 1811 làm nghề thợ may, anh gia nhập Dòng Ba Đaminh, và nhiệt tình phục vụ giáo xứ Kẻ Mốt với tài năng may vá của anh : may cờ quạt, các đồ trang trí trong nhà thờ đều do bàn tay khéo léo của anh tạo ra và trang hoàng rất đẹp. Anh lập gia đình và có được ba người con. Khi bị bắt, vợ đến thăm, khóc lóc. Anh nói an ủi vợ : “Đừng khóc mình ơi, mình hãy về dạy dỗ các con nên người, dạy chúng thờ phượng Chúa. Tôi đã dâng mình và các con cho Chúa. Nhớ cầu xin Chúa cho tôi thêm sức mạnh, để kiên trì tới cùng”. Lời an ủi vợ, cũng chính là lời tự động viên bản thân, anh quyết tâm trung thành giữ đức tin vào Chúa, và phó thác hoàn toàn nơi sự Quan Phòng của Ngài.
Augusutinô (Âutinh) Nguyễn Văn Mới, sinh năm 1806 trong một gia đình nông dân ngoại đạo. Đến tuổi trưởng thành anh đến lập nghiệp ở giáo xứ Kẻ Mốt với nghề lao công (làm thuê, làm mướn) bằng sức lao động nơi anh. Được tiếp xúc với những tín hữu của giáo xứ Kẻ Mốt, anh cảm thấy có cảm tình, yêu mến đạo và xin theo học giáo lý. Năm 31 tuổi, anh được cha Phêrô Tự rửa tội và đặt tên thánh cho anh là Aâutinh. Từ đó anh sống đạo rất tốt, siêng năng đọc kinh Mân Côi, gia nhập dòng Ba Đaminh. Anh cũng có gia đình, nhưng vợ chồng anh rất nghèo, suốt ngày chỉ có đi làm thuê làm mướn để kiếm miếng cơm manh áo. Có ngày anh đi làm cho đến tận khuya mới về. Với sự trở lại, anh tin tưởng vào Thiên Chúa vào tình yêu của Ngài, anh sẵn sàng bằng lòng bước theo Chúa bằng con đường khổ hình, để minh chứng đức tin Kitô giáo mà anh đã lĩnh thụ.
Têphanô Nguyễn Văn Vinh, sinh năm 1813, anh sống cảnh độc thân và nghèo túng, phải sống trong một gia đình ngoại đạo làm tá điền. Anh có tính tình đơn sơ, chất phát, thật thà và rất khỏe mạnh. Sự ham thích học hỏi của anh đã dẫn anh đến với các lớp học giáo lý, là nơi mà anh học đánh vần từng chữ, và học kinh bổn theo lối truyền khẩu. Những gì anh học được trong lớp giáo lý, anh đem ra thực hành trong cuộc sống của chính anh, dầu vậy anh vẫn chưa được rửa tội. Khi bị bắt, anh chỉ là một dự tòng. Thế nhưng anh đã tuyên xưng đức tin khi quan bắt anh đạp lên thánh giá. Anh chững chạc nói : “Tôi thà chết chớ không làm điều đó, vì tôi biết đạo Chúa Giêsu là đạo thật” anh được cha Phêrô Tự rửa tội khi đang bị bắt giam trong tù và cùng được khấn dòng Ba Đaminh. Sự nhận biết Chúa đơn sơ, và chất phát đã giúp anh hiểu được Chúa, về đạo thật của Người. Và anh vững vàng khi nói về đức tin của mình vào Thiên Chúa.
Vào đêm thứ ba, từ khi cha Phêrô được phúc tử đạo, trong lúc năm người đang quỳ gối cầu nguyện, thì thấy cha Phêrô hiện ra an ủi : “Các con đừng buồn, vì chắc chắn các con sẽ được chết vì đạo, song các con còn phải qua một thời gian thử thách nữa, để xứng đáng được phúc trọng này”. Dù mơ hay thật, năm người từ đây thôi khỏi buồn phiền, được thêm lòng can đảm và sẵn sàng chịu mọi gian khổ trong những ngày chờ đợi. Dưới sự điều hành của thày Mậu, bốn hội viên dòng Ba Đaminh chia nhau tiếp tục gặp gỡ các bạn tù, giới thiệu với họ về Thiên Chúa. Cắt nghĩa giáo lý, đạo của Chúa, rồi dẫn họ đến gặp thày Mậu để lãnh nhận bí tích Rửa tội. Trong hồ sơ tuyên thánh, cha Huân đã dựa theo các bức thư của thày, làm chứng rằng : “thày Mậu vẫn dạy giáo lý cho các tù nhân, và rửa tội được 44 người. Trong đó, một tử tội tên Hưng mới học đạo một tháng thì đến ngày xử, anh xin quan hoãn lại ít giờ để anh được rửa tội, sau đó Hưng vui vẻ ra pháp trường.” Trong ngục tù giờ đây trở thành nguyện đường, hàng ngày vang lên những lời chúc tụng Thiên Chúa, lời cầu nguyện cho giáo hội và cho mọi người mọi giới được đầy tràn ơn lành của Chúa. Họ liên lủy cầu nguyện thật sốt sắng, bất chấp có lính canh hay không, việc cầu nguyện đối với họ không thể thiếu.
Ngày 19-8-1839, năm chứng nhân được kêu ra tòa, vẫn có ảnh thánh đặt dưới đất một bên, và bên kia là những dụng cụ tra tấn. Quan hỏi : “Các anh đã phải giam cầm lâu ngày, chịu khổ nhiều rồi, bây giờ bỏ đạo đi, thì sẽ được trở về với gia đình, với vợ con. Các anh tính sao ?” thày Mậu thay cho anh em trả lời : “Chúng tôi đã quyết một điều là trung thành với Chúa chúng tôi thờ. Nếu quan bảo chặt đầu chúng tôi, hay chúng tôi phải chết cách nào khác, chúng tôi đã sẵn sàng”. Quan nghe vậy, thì tức giận, quát lính lôi các vị qua thập giá. Tất cả đều quỳ xuống đất phục trên ảnh thánh nguyện rằng : “Lạy Chúa, xin cứu con”. Quan thất vọng, lệnh cho lính dẫn các chứng nhân trung thành về ngục : “bọn này không thể tha được, mà thật chúng cũng chẳng thèm được tha”.
Ngày 24-11-1839, năm người tôi trung của Chúa lại phải ra tòa một lần nữa. Quang cảnh cũng như lần trước, và các tôi tớ Chúa vẫn một mực cương quyết không chịu khóa quá (khoá quá, xuất giáo : đều có nghĩa là chối bỏ đạo). Lần này, quan tuyên bố nhà vua đã kết án xử tử tất cả, song tòa án còn có thể thay đổi được, nếu các “tội nhân” bằng lòng xuất giáo. Thày Fanxicô Savie thay mặt cho tất cả trả lời : “Chúng tôi chỉ tôn thờ một Thiên Chúa là Chúa tể vũ trụ và là cùng đích muôn loài, là Chúa trên hết các Chúa, là Vua trên hết các vua, là Đấng chúng tôi mong được đổ máu ra để tỏ lòng thành và yêu mến”. Lời nói của vị anh hùng tử đạo làm cho quan tực giận quát tháo : “Chúng bay là thứ người gì mà ăn nói kỳ quặc vậy ? Bố mẹ nào đã sinh ra chúng bay ?” Thày Mậu bình tĩnh đáp : “Chúng tôi và cha mẹ chúng tôi đều bởi Thiên Chúa mà làm người”. Quan tức giận vô cùng, song cũng phải chào thua.
Ngày 18-12-1839, các quan nhận được bản án từ triều đình gửi ra, đòi thắt cổ năm người. Một lần cuối cùng, quan hỏi các chứng nhân có muốn khóa quá để được tha không, thì thày Mậu lại tiếp tục trả lời thay cho anh em : “Đã từ lâu, anh em chúng tôi, như những con nai khát nước, chỉ ước ao được chết vì đạo. Nay đã đến giờ chúng tôi đạt được sự mong ước ấy, xin quan cứ thi hành bản án”. Biết không thể nào làm lay chuyển ý chí sắt đá của những anh hùng đức tin, quan nói một lời như từ biệt rằng : “Chúng bay có tội đáng phải chết”. Rồi ông viết tấm bảng nhỏ, cho lính cầm khi dẫn các đấng đi xử, những lời sau đây : “Bọn ngu dại theo Datô tả đạo, mặc dầu đã khuyên răn sửa phạt, chúng vẫn ngoan cố không chịu bước qua thập tự, nay chúng phải chịu hình giảo”.
Ngày hôm sau, tức ngày 19-12-1839, năm chiến sĩ đức tin được dẫn tới pháp trường. Thày Fanxicô Savie Mậu đi đầu, tất cả tỏ ra vui mừng hoan hỉ và rất can đảm. Thấy đám đông hiếu kỳ đi theo, thày Mậu ngửa mặt lên trời, nói với họ rằng : “Anh em chúng tôi đang tiến về Thiên đàng đây”. Khi tới nơi, nơi đã xử cha Phêrô cách đây 1 năm 3 tháng, mỗi vị chứng nhân chịu trói vào một cọc, rồi cùng một lúc, cả năm vị bị thắt cổ cho đến khi tắt thở. Giáo dân lập mưu lấy được thi hài của các anh hùng tử đạo, đem chôn táng trong một nghĩa trang. Ba năm sau, hài cốt thày Fanxicô Savie Mậu được đưa về an táng tại họ Kẻ La ; thày Đaminh Úy an táng tại Đồng Tiến ; anh Aâutinh Mới an táng tại Phượng Vĩ ; anh Tôma Đệ được an táng tại Phong Cốc ; và anh Têphanô Vinh an táng tại Hương La, tất cả thuộc ở tỉnh Bắc Ninh.
Năm vị anh hùng với đức tin sắc bén, với lòng yêu mến Chúa nồng nàn, đã khao khát sự chết vì chính đạo, chết vì Danh Chúa. Phúc hưởng Thiên đàng vĩnh cửu. Thày Mậu hưởng 49 tuổi, thày Úy hưởng 27 tuổi, anh Đệ hưởng 28 tuổi, anh Mới hưởng 33 tuổi, anh Vinh hưởng 26 tuổi.

 
Thánh Giêronimo Hermosilla Liêm – giám mục
Thánh Valentino Beririochoa Vinh – giám mục
Thánh Pedro Almato Bình  - linh mục

Tại địa phận Đông đàng ngoài, trong hai tháng 5 và 6 năm 1838, hai giám mục chánh phó bị bắt. Tổng đốc Nam định Trịnh Quang Khanh, trong một bản thượng sớ về kinh, viết “tâu hoàng thượng còn danh trùm Vọng chưa bắt được, thần xin khất thong thả ít bữa. Khi bắt được thần sẽ tra hỏi và tâu trình ngay” khi nghe biết cha Vọng đã chạy thoát sang tỉnh Đông (Hải Dương), Trịnh Quang Khanh nhờ các quan tỉnh này tiếp sức vào việc truy tìm danh Trùm Vọng. Cả tỉnh Đông đại náo vì việc đuổi bắt một nhà truyền giáo. Trong lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, chưa một thừa sai nào bị tìm bắt một cách gắt gao và náo động, cho đến việc cải trang và thoát nạn một cách hy hữu khỏi những người đang săn lùng truy bắt, như trường hợp cha  Hermosilla Vọng. Cha luôn đứng đầu sổ của ba triều vua và các tổng đốc Nam định. Nhưng cha đã khéo léo, lanh chân lẹ bước, khi ẩn khi hiện, thoát nạn và hoàn thành trách nhiệm một cách tuyệt vời. Khi cha bị tìm bắt ở tỉnh đông, thì cha đã chạy thoát lên tỉnh bắc từ bao giờ. Chúa đã giúp cha Vọng thoát nạn trên những đường tơ kẽ tóc những trường hợp hy hữu như những phép lạ, để cha có thể làm trụ cột vững cho Hội thánh Việt Nam.
Giêronimo Hermosilla sinh ngày 30-9-1800 tại Santo Domingo de la Calzada, nước Tây Ban Nha. Từ nhỏ, cậu theo học với các cha dòng Biển Đức và đã có ý định xin vào dòng này hồi 15 tuổi. Thời ấy, nước Tây Ban Nha đang chịu sự thống trị của Napoléon I, các dòng tu không được nhận người. Hermosilla được giới thiệu qua học tại chủng viện giáo phận Valencia do các cha dòng Đaminh điều hành. Duyên kỳ ngộ này đã đưa Hermosilla đến dòng thuyết giáo, lãnh tu phục năm 19 tuổi.
Năm 1820, một cuộc cách mạng căm thù Giáo hội nổi dậy. Nhiều tu viện phải giải tán, tài sản giáo hội bị sung công. Hermosilla phải rời bỏ tập viện, gia nhập quân đội chiến đấu cho hòa bình và độc lập. Năm 1823, vua Louis XVIII nước Pháp phải đem quân sang tái lập trật tự bằng một chế độ quân chủ độc tài : Fernando VII trở lại ngai vàng, phục hưng giáo hội. Hermosilla giải ngũ, trở lại tập viện và khấn dòng ngày 29-10-1823. Ba năm sống trong quân ngũ sẽ mãi mãi lưu lại vị tu sĩ này tính xông pha, lòng gan dạ và đức tính kiên nhẫn.
Năm 1824, khi đọc thư kêu mời của tỉnh dòng Rất thánh Mân Côi Manila, thày Hermosilla cùng với 11 đồng bạn hưởng ứng việc đi truyền giáo ở Đông Á. Sau 6 tháng vượt đại dương, ngày 2-3-1825, 12 tu sĩ đã tới Manila. Năm 1826 thày Hermosilla lãnh chức linh mục. Năm 1828, cha Hermosilla tình nguyện sang Việt Nam truyền giáo. Tả sao cho xiết niềm vui khôn tả của địa phận Đông đàng ngoài. Cả địa phận khi ấy chỉ còn có 4 thừa sai nhưng đã già, và bệnh tật, gồm hai đức cha Delgado Y và Henars Minh, cha chính Amandi Chiêu và cha Fernández Hiền. Vừa thấy vị thừa sai mới đến, đức cha Delgado Y ôm lấy, vui sướng ca lên : “Vọng, Vọng, ước vọng”. Nên từ đấy, tên Vọng trở thành tên Việt Nam cho vị thừa sai trẻ tuổi Hermosilla. Sau vài tháng học tiếng Việt, cha học rất giỏi, và cha Vọng hòa mình rất nhanh với các tín hữu công giáo cũng như người ngoại giáo. Tất cả là hy sinh và yêu thương, không biết mệt mỏi, vị thừa sai chưa đầy 30 tuổi, không ngừng di chuyển thăm viếng các họ đạo, giảng đạo, rửa tội và giải tội cho tín hữu.
Từ tháng 7.1838, nghĩa là sau khi hai đức cha được phúc tử đạo, cha Hermosilla Vọng phải gánh tất cả mọi trách nhiệm trong một địa phận rộng lớn, với chức vụ cha chính dòng và quyền đại diện Tông tòa. Dưới quyền cha có hai cha thừa sai dòng, là cha Romualdo Jimeno Lâm đến Việt Nam năm 1836, và cha Domingo Martí Gia đến Việt Nam năm 1837. Hai cha là những thừa sai cuối cùng tới được Việt Nam, trong thời cấm đạo của vua Minh Mạng. May mắn, ngoài hai cha còn số giáo sĩ Việt Nam gồm 37 cha dòng, với khoảng 10 linh mục triều.
Về tên tuổi của hai nhà truyền giáo sau này, nhà vua và các quan không biết đến, nên cứ tưởng trong xứ truyền giáo Đaminh chỉ có còn cha Hermosilla Vọng chưa bắt được. Nhà vua đã nhiều lần lên tiếng buộc các quan phải dốc toàn lực bắt “danh Trùm Vọng” cho bằng được. Nhưng Chúa đã giúp cha thoát nạn trong nhiều trường hợp rất đặc biệt. Một ngày trong tháng 6-1838, lính vây nhà cha Hermosilla Vọng đang ở trong làng Xuân Sơn, giáo xứ Liễu Dinh – Kiến An. Một anh lính xung phong vào phòng cha, nhưng thấy một ông tây to lớn ngồi yên bất động anh không dám lại gần, vội chạy ra ngoài gọi thêm đồng đội. Khi cả toán lính xông vào, cha lớn tiếng nguyện rằng : “Mặc thánh ý Đức Chúa Lời định”, rồi buông màn che cửa xuống, cả phòng tối sầm lại. Toán lính vì tối om nên không thấy gì, nên chạy ra ngoài, bắt gặp một ông già rậm râu, tưởng là danh Trùm Vọng. Nhìn kỹ, thì ra là một ông già nhà quê vừa câm vừa điếc. Lính bỏ ông già đứng đấy, trở lại tìm cha Vọng, thì cha đã lẹ chân đi nơi khác, tìm không ra. Bọn chúng quay lại chỗ ông già nhà quê câm điếc đứng, thì ông già này cũng đã biến mất từ bao giờ. Chứng tích phép lạ Chúa đã giúp cha Vọng thoát vòng truy đuổi của bọn lính.
Cuối tháng 6-1838, vì đã hết hạn định một tháng mà vẫn chưa bắt được Trùm Vọng, Minh Mạng quở mắng các quan, cách chức tổng đốc Trịnh Quang Khanh, cử tướng Lê Văn Đức tạm giữ chức này, việc làm này của vua Minh Mạng cũng là để Trịnh Quang Khanh nỗ lực lâp công để được phục chức. Nhiều người tưởng rằng ông sẽ có dịp may và truy bắt được cha Vọng vào tháng 7-1838 : khi ông được mật báo danh Trùm Vọng đang có mặt trong một làng gần biển. Tức khắc, ông đích thân dẫn 800 lính với mười mấy chiếc thuyền bao vây tứ phía, hầu không cho cha Vọng thoát thân. Nhưng, Trịnh Quang Khanh thất bại, vì đã không bắt được nhà truyền giáo mà quân lính của ông còn gặp mưa to gió lớn, thuyền bè bị sóng cồn đánh vùi dập : hai chiếc thuyền lớn bị đắm, 12 chiếc nhỏ bị trôi đi mất tích cùng với ba viên võ quan và nhiều lính thủy. Sấm sét đánh liên hồi vang trời dậy đất, giết hại thêm nhiều người. Trịnh Quang Khanh chịu thua trở về, tâu vào kinh chịu tội. Nhưng vua xét ông là tay đắc lực và có nhiều thiện chí, nên tháng 10-1838 đã cho ông hồi chức.
Theo văn thư Tòa thánh, ngày 22-8-1840, đức tổng giám mục Manila và các bề trên tỉnh dòng Đaminh họp, để chọn vị tân giám mục địa phận dòng ở Việt Nam. Hội đồng đã để cử cha Hermosilla Vọng làm giám mục chánh, cha Jimeno Lâm làm giám mục phụ, đề cử sẵn cha Martí Gia thay thế khi cần. Các đề nghị được đức Thánh cha Giêgorio XVI châu phê ngày 9-3-1841 và truyền thi hành gấp.
Vua Minh Mạng đã băng hà, nhưng “hùm xám” Nam định còn đấy. Trịnh Quang Khanh đã được mật báo danh Trùm Vọng sẽ ngang qua Nam định để vào Ninh Bình, ông liền tung quân nằm phục nhiều nơi, đặt các trạm canh khắp cả các ngả đường. Đặc biệt trên con đường độc đạo nhất định phải đi qua, một trạm canh rất nghiêm ngặt.
Lễ tấn phong Giám mục cho cha Hermosilla Vọng ban đầu dự tính sẽ cử hành nhằm vào ngày lễ Phục Sinh 14-4-1941 tại Phúc Nhạc – Ninh Bình. Vào chính ngày hôm ấy, tổng đốc Trịnh Quang Khanh đích thân dẫn quân lính đến bao vây làng Phúc Nhạc và bắt được hai thừa sai Pháp là Berneux Nhân và Galy Lý, cùng với bà Đê (bà thánh Đê), tất cả dẫn về Nam định. Ban đầu tên Khanh mừng thầm, tưởng rằng đã bắt được danh Trùm Vọng, nhưng đến sau hắn mới biết mình “mừng hụt”. Bởi vì cha Vọng đã đổi ý, chưa vào ngày ấy.
Hai ngày sau, tức ngày 16-4-1941 cha Hermosilla Vọng mới khởi hành từ Hải Dương, thay vì đến Phúc Nhạc, cha đi Vĩnh Trị, cha đổi tên mới là Liêm. Cha chỉ đi trong đêm tối, ban ngày phải ẩn mình trong những bụi rậm bên đường. Nhà truyền giáo anh hùng đã nếm đủ mọi gian nan thử thách, song tưởng chưa có lần nào gian nguy và nhục nhã như lần này. Lần này cha không phải là cải trang mà là hóa trang, một việc làm không còn cho là qua mặt “hùm xám” mà là “vuốt râu hùm”. Vào được địa hạt Nam định, cha phải đi qua một đồn canh rất nghiêm ngặt trên con đường độc đạo. Để thoát được đồn này, cha phải đút tiền cho một viên phó tổng. Phó tổng nhận tiền lập mưu như sau : mấy đêm trước, ông sai nhiều gia nhân cầm tay thước đi đi lại lại trước đồn, làm như tuần phòng của tổng nhà. Tập thử trước như thế, để lính canh không chú ý và không hỏi han gì khi ông dẫn vị thừa sai đi qua. Tới một đêm có thể qua được, theo lời bàn của phó tổng, cha Liêm buộc túm râu gọn gàng, đội nón, đi chân không, thắt lưng và xắn quần lên cao, lấy bùn trát vào mặt mũi và tay chân, cầm đuôi ngựa, chạy theo phó tổng như một tên đầy tớ. Và cha đã thoát được đồn canh.
Qua đồn rồi, cha Hermosilla Liêm còn phải vất vả lắm mới tìm đến làng Vĩnh Trị, và đến tòa giám mục của đức cha Retord Liêu. Tại đây, trong nguyện đường của một cô nhi viện, ngày 25-4-1841, đức cha Liêu tấn phong giám mục hiệu tòa Miletopolis cho cha Hermosilla Liêm. Được tấn phong rồi, vị tân giám mục tìm đường khác trở về địa phận. Ngài đặt tòa giám mục ở giáo xứ Kẻ Mốt – thuộc địa phận Bắc Ninh. Lúc này, dưới triều Thiệu Trị cũng theo con đường cũ của Minh Mạng, nhưng không gắt gao, nên giáo hội được đôi phần yên ổn. Nhưng thánh tổ Minh Mạng trước khi chết đã để lại cho địa phận Đông cả một cảnh điêu tàn. Trên 1000 nhà thờ, nhà nguyện đã bị tàn phá, hoặc phải tháo dỡ xuống, có nơi phải cống nộp gỗ ván cho quan tỉnh ; trường Latinh ở Ninh Cường, trường Thần học ở Tiên Chu và Ngọc Đồng, 40 nhà chung, 60 họ đạo, 22 nhà phước dòng Ba Đaminh, ba nhà phước dòng Mến Thánh Giá đều phải giải tán và bị triệt hạ ; các dì phước tứ tán mỗi người một nơi, giáo dân thì sống cùng cực, mất hết của cải, sống kiếp ăn mày. Đồ thờ, đồ lễ, sách vở, giấy tờ can hệ đều thất lạc.
Nay tất cả gánh nặng trút hết lên vai đức cha Hermosilla Liêm. Địa phận bây giờ tựa như “Vườn nho bị muôn thú dữ phá tan hoang, khách qua lại mặc sức hái mà ăn” (Tv 79). Tuy nhiên, vị chủ chăn anh hùng và nhiệt thành có tên là Vọng, không hề tỏ ra thất vọng. Hàng giáo sĩ bấy giờ gồm 2 cha dòng Tây Ban Nha, tháng 1-1841 có thêm cha Manuel Rivas, 37 cha dòng bản quốc với một số linh mục triều. Ngay trong năm 1840, 143 người lớn và trên 1000 trẻ em lãnh nhận bí tích Rửa tội. Đức cha Hermosilla Liêm – người hùng của địa phận Đông, lợi dụng tình hình lắng dịu, ngài ra sức hoạt động không ngừng nghỉ. Việc trước hết, ngài tấn phong giám mục cho đức cha Jimeno Lâm. Lễ tấn phong được cử hành khá long trọng, nhằm vào ngày lễ kính hai thánh tông đồ cả Phêrô và Phaolô 29-6-1841, tại phòng tiếp khách của cha xứ Cao Xá. Cha Martí Gia và cha Rivas Thập làm phụ phong, có 7 giáo sĩ dòng triều người Việt, 19 thày giảng và một số trùm trưởng tham dự. Sau đó, đức cha truyền chức cho 7 linh mục bản quốc, và tổ chức những buổi sinh hoạt để các tân chức được học hỏi thêm về thần học, cũng như về Thánh Kinh và mục vụ.

Sau lễ tấn phong, đức cha Hermosilla Liêm họp các cha có mặt tại Nam Am, thảo luận và đặt ra một phương hướng cho công cuộc truyền giáo trong tình thế mới. Đức cha ra lệnh cho các cha tổ chức những “tuần đại phúc”, đi tìm những chiên lạc và dạy giáo lý cho bổn đạo. Người yêu cầu các cha cùng với giáo dân khuyến khích họ, bắt tay vào việc sửa chữa và xây dựng các thánh đường, nhà xứ đã bị tàn phá, chuộc lại những tín hữu còn bị giam giữ. Đức cha làm việc cực nhọc ngày đêm, biên thư luân lưu khuyên răn, an ủi, hoặc chỉ vẽ cách rửa tội cho trẻ em bên lương, cùng giúp những bệnh nhân hấp hối trên giường bệnh. Người đặt trọng tâm vào việc đào tạo các linh mục tương lai : xây cất chủng viện tại giáo xứ Kẻ Mốt. Người tu sửa các nhà phước, kêu gọi chị em trở về sống cộng đoàn. Người chỉnh đốn lại nhà Đức Chúa trời, dạy các thày giảng phải giữ lề luật và tập quán đã có từ lâu đời của đất nước.
Đức cha khuyên giáo dân siêng năng đọc kinh Mân Côi, cậy trông Đức Mẹ, và kêu cầu thánh nữ Philomena tử đạo. Theo một bức thư của cha bề trên Martí Gia, sự trông cậy vào Đức Mẹ Mân Côi đã không vô ích, và từ đấy giáo dân bớt sợ hãi, thêm lòng can đảm, đua nhau xây dựng nhà thờ, sốt sắng giữ đạo, và khuyên được nhiều người lương dân theo đạo. Đức cha chọn thánh nữ Philomena làm bổn mạng chung cho địa phận, xin tòa thánh ban phép dâng lễ kính hàng năm.
Địa phận trung đàng ngoài. Đức cha Sanjurio An đã phải hy sinh ngày 20-7-1857, đức cha Sampedro Xuyên lên kế vị. Sợ địa phận có ngày mất chủ chăn, đức cha Xuyên đã dùng quyền tòa thánh chọn một giám mục phụ tá, có quyền kế vị. Đức cha quyết định chọn cha Valentino Beririochoa Vinh mới 31 tuổi, sang Việt Nam chưa đầy 3 tháng. Lễ tấn phong được cử hành trong nhà ông chánh Chi, tại làng Ninh Cường – Nam Định vào ngày 26-6-1858, một cách âm thầm không một giáo dân tham dự, hai cha Riano Hòa và Carreras Hiển làm phụ phong. Bao tay không có, gậy vàng là một cây nứa được bọc bên ngoài là lớp giấy trang kim, mũ ngọc bằng bìa cứng cũng được phủ trang kim.
Valentino Beririochoa xuất thân trong một gia đình đạo đức, giàu sang quý phái, nhưng đã khánh kiệt. Ngài sinh ngày 14-02-1827 tại làng Elorrio, tỉnh Vizcaya thuộc nước Tây Ban Nha. Cuộc đời của Valentino Beririochoa chịu ảnh hưởng rất nhiều của song thân. Ngài học được nơi người cha sự cần cù kiên nhẫn, và thừa hưởng nơi người mẹ một đức tin sống động, lòng sùng kính Đức Maria cách đặc biệt và tính cách vui tươi hòa nhã với hết mọi người. Đặc biệt với thân mẫu, Valentino hằng ôm ấp mối tình thắm thiết, cả khi ngài đã là giám mục nhưng tình cảm dành cho mẹ rất sâu đậm qua những bức thư của ngài viết về cho mẹ.
Vì thân phụ thường đóng bàn ghế cho một nữ tu viện Đaminh trong vùng, nên Valentino được vào giúp lễ. Nhờ vậy, cậu Valentino có dịp tiếp xúc với cha linh hướng của tu viện, một linh mục dòng Đaminh, khi rảnh rỗi cha dòng kể chuyện cho cậu nghe về các thừa sai Đaminh đang sinh sống và làm việc truyền giáo ở Việt Nam, và về những mẫu gương dấn thân, những vị anh hùng chịu tử đạo vì Chúa. Từ đấy, cậu bé 12 tuổi luôn ôm ấp trong lòng giấc mộng vàng đó là được làm linh mục dòng Đaminh, và được đi phục vụ trên đất nước Việt Nam. Nhưng vì gia đình rơi vào tình cảnh nghèo túng, nên cậu bé Valentino phải phấn đấu khá nhiều trong đời sống bản thân, gia đình, học tập để biến ước mơ thành hiện thực.
Sáu năm liền, Valentino phải kết hợp ba chương trình học : vừa làm mộc giúp cha, vừa trau dồi văn hóa phổ thông và xếp giờ học Lavăn. Theo gương Đức Giêsu nơi xưởng mộc Nazareth xưa, cậu kiên nhẫn chờ đợi ý Chúa được thực hiện. Năm 18 tuổi, nhờ sự giúp đỡ của một linh mục, cậu xin phép cha mẹ cho gia nhập chủng viện Logrono. Các bề trên và giáo sư đều ghi nhận nơi chủng sinh Valentino tính chăm chỉ học hành, nếp sống đạo đức sâu xa, khắc khổ với mình nhưng lại vui tươi với mọi người. Đức giám mục địa phận, đức cha Irigoyen, khi kinh lý làng Elorrio ghé thăm gia đình của Valentino, đã nói với thân mẫu của anh rằng : “Này bà Maria, có lẽ con bà sẽ làm đến giám mục”.
Sau 3 năm triết học với thành quả mỹ mãn, mùa hè năm 1848 thày Valentino về thăm gia đình, thấy cha già sức đã quá yếu, lại vất vả với công việc, vì thương cha già, thày xin bề trên cho sống ngoại trú để vừa đi học vừa phụ giúp gia đình, trong khoảng thời gian 30 tháng. Hơn hai năm đã trôi qua như thế, cho tới ngày được gia nhập hàng giáo sĩ, thày Valentino thụ phong linh mục năm 1851, và khấn dòng Đaminh vào 3 năm sau. Cha Valentino được sai sang Manila, tới nơi ngày 17-6-1857,  để tìm đường vào Việt Nam, khi ấy cơn bách hại đạo đang ở điểm cao.
Ngày 30-3-1858, cha Berriochoa cùng với hai cha bạn Riano và Carreras đặt chân lên đất Việt, nhập địa phận trung, lấy tên Việt Nam là Vinh, nên được gọi là cha Valentino Beririochoa Vinh. Đức giám mục địa phận tử đạo được 8 tháng, đức cha Sampedro Xuyên kế vị bị truy lùng gay gắt. Trong thư gửi về gia đình, cha Vinh viết với nội dung được chuyển dịch sang tiếng Việt : “Cánh đồng truyền giáo này không lấy được một ngày tươi sáng, không ngày nào mà không phải cố gắng giữ nét vui tươi. Không ngày nào mà không có đau thương để khóc, không có lo toan để tìm phương kế thoát nạn, không ngày nào mà không có kẻ theo dõi hay quan quân tìm bắt”.
Đức cha Xuyên trước nguy cơ bị bắt, đã chuẩn bị cho tương lai của địa phận, người chọn một giám mục kế vị. Người đã chọn ngay cha Valentino Beririochoa Vinh, cha Vinh lúc này tiếng Việt nói chưa rành rỏi, chưa hiểu gì về phong tục đất nước và con người. Vị tiến chức run sợ nói : “Thưa đức cha ! nếu được thì xin cất chén đắng này đi cho con…. Con thấy lòng con tràn ngập lo lắng, sợ hãi khi nghĩ đến địa vị mà đức cha muốn đặt con lên. Nhưng điều môi miệng con nói, thì con cũng xin nói với cả tấm lòng, đó là con xin vâng trọn ý Chúa, bây giờ và mãi mãi”. Và rồi tiến chức đã cúi đầu thụ phong để nhận trách nhiệm nặng nề từ đây.
Ngày 28-7-1858, đức cha Sampedro Xuyên được phúc tử đạo, trút hết gánh nặng lên vai đức cha Valentino Beririochoa Vinh. Lúc này, ngài đã lánh sang địa phận đông, trú ẩn ở Hương La – xứ Tử Nê (Bắc Ninh). Cho dù ngài có dư thừa những đức tính kiên nhẫn và bình tĩnh, nhưng lời nói của ngài cũng không thể không lộ ra sự đau đớn : “Đức đại giám mục khả kính Sampedro Xuyên để lại cho tôi một gánh nặng – đó là chức giám mục này. Ngày nào được nhoai tới thiên cung, tôi sẽ tố cáo người”.
Trong bức thư gửi cho linh mục bạn, đức cha Vinh viết : “Cha Ignacio muốn nói gì về cái nhân vị thần thánh của tôi ? tôi còng lưng gánh một gánh mà tôi sợ, rất sợ đổ vỡ dọc đường. Tôi tưởng không khi nào phải khổ tâm bằng lúc phải ưng thuận làm giám mục”. Đức cha tìm cách trở về địa phận để sống chết với giáo dân, song không thể được, vì cơn bách hại đạo ở địa phận trung diễn ra gay gắt, nên ngài đành lưu lại hầm trú ở Hương La có tên gọi “tòa giám mục – hầm trú”. Ngày nay, giáo họ Hương La – xứ Tử Nê vẫn còn lưu giữ hang tọa đạo của ngài, và giáo dân lập một đền thờ để tưởng nhớ đến vị thánh anh hùng.
Tại hầm trú năm xưa, đức cha Vinh cai quản địa phận gần trọn 3 năm, bằng đời sống cầu nguyện hy sinh, ngài viết thư cho các linh mục và giáo xứ ở giáo phận xa xôi, ngài đọc sách và dạy thần học cho bốn đại chủng viện. Các chủng sinh giúp đức cha viết thư từ gửi cho các cha trong địa phận, có ông lang Thư người Cao Xá đóng vai liên lạc thông tin. Giữa hoàn cảnh mưa gió sấm sét ấy, đức cha Vinh vẫn giữ được tâm hồn bình tĩnh và tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Khi đọc các lá thư của ngài viết cho các linh mục khác, ai cũng nhận thấy sự điềm tĩnh vui vẻ và tính khôi hài của vị giám mục.
Xin được trích nguyên văn một đoạn thư mà đức cha Vinh viết bằng tiếng Việt gửi sang Macao : “Gửi kính đức thày Hi, cha chính Tế, cha chính Giu, cha tràng Thịnh, cha tràng Nam, cha Thái, cha tràng Nguyên và cha tràng Hiển bằng an. Vậy trước hết tôi xin phép đức cha và các đấng viết thư này bằng tiếng Annam, tôi có một ý cho được bày câu nọ câu kia. Vậy từ khi đức cha và các đấng xuống tàu đến rày chửa thấy sự quấy quát đàng này đàng khác giãn bớt chút nào sốt. Các quan ghét sự đạo càng ngày càng ngặt, nó canh giờ thủy độ đêm ngày mãi, mà có nhiều họ trong địa phận tôi nó bắt ra điểm mục ba ngày một lần, thì sự các cụ trong địa phận mình khó lòng lắm, không còn nhà nào dám chịu mà người ta không dám rước đi kẻ liệt sốt, khốn nạn mọi đàng”.
Sau một đoạn thư đức cha tin về nhiều đấng tử đạo trong những năm 1859, đức cha viết tiếp : “Sau hết xin đức cha hằng nhớ đến con nhỏ mọn này vì tôi cũng có nhớ đến đức cha đêm ngày mãi, xin đức cha đọc kinh cầu nguyện suy ngắm, khi làm việc lành nào thì than thở cùng Đức Chúa Blời, xin Đức Chúa Blời cho hồn tôi vì yếu đuối lắm mà phải gánh nặng quá sức tôi, về phần xác thì đã có sức vừa phải……. Bấy nhiêu, xin đức cha và các đấng hằng nhớ cầu cho tôi cùng, tư” (1860).
Đức cha Berriochoa Vinh vẫn ở trong hầm trú tại Hương La, người chỉ ra khỏi đó khi đi giúp bệnh nhân, hoặc đi xưng tội với đức cha Hermosilla Liêm, nhưng không bao giờ đi khỏi hai làng Kẻ Mốt và Tử Nê, có đi đâu thì cũng chỉ chờ vào ban đêm ngài đi lén lút. Cơn bách hại ngày càng trở nên dã man và ác liệt, nhất là trong địa phận trung. Trong một bức thư gửi sang thánh bộ truyền bá Đức tin, đức cha viết : “Rất có thể trong ít tháng nữa địa phận của tôi sẽ không còn thừa sai, linh mục, không chủng sinh, không thày giảng, và không biết có nên nói thêm : là không còn bổn đạo nữa”. Ngài lo sợ cho địa phận sẽ thiếu vắng nhân sự truyền bá đức tin và dẫn đến đời sống đức tin sẽ bị tàn lụi.
Tháng 3-1859, nhiều thừa sai Tây Ban Nha phải theo tàu “Pregent” của Pháp, tạm lánh sang Macao, chỉ có 3 cha ở lại, trong số này có cha Almato Bình được phúc tử vì đạo. Pedro Almato Bình sinh năm 1831 tại Santo Feleice Saserra xứ Vich, tỉnh Cataluna nước Tây Ban Nha. Năm 15 tuổi, Almato vào chủng viện. Tại đây, thày Almato có cơ hội đọc những bản tin về các xứ truyền giáo thuộc dòng Đaminh ở Đông Á. Cũng từ nguyên nhân này, thầy Almato khát vọng truyền giáo luôn rạo rực trong lòng thày. Ngày 25-5-1847, thày vào tập viện Ocana và khấn dòng năm liền sau.
Tháng 9-1849 thày Almato đến Manila tiếp tục học thần học. Năm 1854, thày thụ phong linh mục với tuổi đời còn non trẻ (23 tuổi). Và năm sau, cha Almato được phái sang địa phận đông đàng ngoài, lấy tên Việt Nam là Bình, Cha Pedro Almato Bình. Ban đầu, cha Bình giúp xứ Nam Am và Đông Xuyên. Sau đó, cha về cư trú và dạy học trong chủng viện tại Kẻ Mốt, rồi được cử đi xứ Thiết Nham – Bắc Giang hơn một năm. Tình trạng sức khỏe của cha Bình rất yếu, nhưng bên trong thân xác yếu đuối đó, ẩn chứa một nghị lực phi thường trên hành trình truyền giáo.

 

Từ năm 1857, cuộc bách hại ngày càng khốc liệt, cha Bình đành phải sống đời sống “du mục” nay đây mai đó. Ban ngày trốn trong hầm ẩm thấp, ban đêm chèo thuyền lén lút phục vụ giáo dân hai bên sông. Để tránh những vụ bủa vây đột xuất, cha phải ngủ trong bụi rậm, bụi tre, hoặc lúc ngoi sông lội suối dưới trời mưa gió lạnh.
Bệnh hoạn, đói khát và nguy cơ bị bắt, như ba tai họa thường xuyên theo đuổi cha. Nhưng người lính của Chúa Kitô đã thắng lướt, tất cả nhờ vào chí khí can trường, và tinh thần hăng say phục vụ của người chiến sĩ đức tin. Khi tình hình cấm đạo trở nên gay gắt hơn. Tháng 3-1859, các thừa sai Đaminh quyết định chia một nửa đi tạm lánh sang Macao, cha Bình là một trong số các cha được ở lại.       

(Đức cha Berriochoa Vinh)
Trong một bức thư gửi về gia đình cha Almato Bình đã viết (chuyển sang tiếng Việt) : “Con và một linh mục khác đã phải ẩn mình 7, 8 tháng trong một nhà có sẵn hang ở lòng đất, để núp ẩn khi quan quân vây bắt. Nhưng nay mai nếu cha mẹ có nghe tin con bị bắt, thì xin cha mẹ đừng khóc, nhưng hãy vui mừng vì con được phúc trọng”.
Ngày 5-8-1861, bởi chiếu chỉ “phân sáp” của vua Tự Đức. Hàng giáo sĩ hầu như không còn tìm được nơi nào an toàn. Cha Almato Bình đã rời khỏi Thiết Nham về Kẻ Nê, gặp đức cha Berriochoa Vinh, rồi đến ở trong hầm trú tại Thọ Ninh. Nay phải xuống thuyền với đức cha Berriochoa Vinh xuôi theo dòng sông Thái Bình. (đức cha Vinh rời khỏi hầm trú ở Hương La, xuống theo thuyền, xuôi dòng lánh nạn, vì làng Hương La không còn là nơi an toàn cho ngài)
Đêm trăng thu 14 tháng 8 năm Tân Dậu, tức ngày 18-9-1861, cả bầu trời rực sáng ánh trăng vàng. Đức cha Hermosilla Liêm ngước mắt nhìn cảnh vật mà lòng đầy nỗi xúc động đến ứa lệ, khi nghĩ đến số phận đàn chiên phải chịu cảnh phân tán, bơ vơ không người chăn. Nhưng nỗi khổ tâm lớn nhất của đức cha lúc này : là không còn cách nào để tiếp tục giáo dục đám chủng sinh của chủng viện ở Kẻ Mốt, là những mầm non của giáo hội đang được vun trồng.
Chính đêm ấy, đức cha mời linh mục Khoa đến gặp ngài, để thay ngài làm nhiệm vụ giải tán chủng viện, vì tình cảnh này, đức cha không thể gặp trực tiếp các chủng sinh để nói lời tạm biệt, hoặc chứng kiến cảnh đoạn cha con chia cắt. Cha Khoa được lệnh, tập hợp các chủng sinh, và bắt đầu nói trong cảm động : “Thừa lệnh đức cha, cha cho chúng con hay : từ trước tới nay, đức cha đã cố gắng giữ chúng con ở đây, lo liệu cho chúng con được học hành để ngày mai trở thành những linh mục của Chúa. Nhưng bây giờ thánh ý Chúa định cách khác, đức cha không thể nào giữ chúng con ở đây sống chung với nhau được nữa. Vì vậy, đức cha buộc lòng phải giải tán nhà trường, chúng con hãy tự tiện tìm nơi nương tựa ít lâu. Trong hoàn cảnh này, đáng lẽ đức cha cấp giúp chúng con mỗi người một số tiền, nhưng đức cha nghèo lắm, thiếu ăn, thiếu mặc như chúng con thấy, nên chúng con bằng lòng vậy. Nếu Chúa để chúng ta còn sống, thì rồi đây sẽ có ngày đức cha gọi chúng con trở về học hành. Đức cha nhắn lời chúc lành cho chúng con và dạy chúng con ăn ở ngoan ngoãn, trông cậy Chúa là Cha nhân lành, chúng con cũng đừng nên quên cầu nguyện cho đức cha, cho địa phận và giáo hội Việt Nam. Chúng con hãy thu xếp đi ngay trong đêm nay, khỏi cần đến bái chào đức cha, kẻo người không cầm được nước mắt…” thế là chủng viện Kẻ Mốt đóng cửa. Các chủng sinh di tản đi khắp nơi, như đàn chim non vỡ tổ chưa biết bay đi đâu, về đâu. Trên con đường phiêu lưu vô định, giáo dân và người nhà Chúa lạc lõng dưới trận phong ba vùi dập. Cảnh phân sáp khiến người công giáo phải sống chung đụng với người ngoại đạo, thường bị coi như hàng nô lệ. Bị khinh chê, bạc đãi, người công giáo cảm thấy vô cùng tủi nhục, nhất là họ đau khổ vì buộc phải sống theo phong tục của người ngoại giáo. Tuy nhiên, cũng có những người lương dân tỏ ra tình đồng bào và nhân đạo, họ bênh đỡ và che chở người công giáo như những anh em trong gia đình. Như dân làng Hảo Hội – Hải Dương, đã che giấu cha Gaspar Nghĩa suốt thời gian ẩn trú, dân làng góp công, góp của để trợ giúp các chủng sinh trường Kẻ Mốt đi theo cha Nghĩa.
Cũng trong đêm trăng thu đó, đức cha Hermosilla Liêm bỏ Kẻ Mốt trốn sang làng Thổ Đức trú trong hầm ở đó, chỉ còn lại thày Giuse Nguyễn Duy Khang (chủng sinh – chủng viện Kẻ Mốt) đi với người. Không bao lâu cái hầm trú của đức cha ở Thổ Đức cũng bị bại lộ. Đức cha thấy không còn nơi nào trên đất có thể ẩn thân, nên thừa lúc đêm khuya, ngài cùng thày Khang ra sông Thái Bình xuống một thuyền đánh cá. Thày Khang chèo thuyền về phía thị xã Hải Dương, đến một khúc sông vắng, gặp một thuyền người công giáo tên trưởng Bính, hai cha con xin được tá túc. Mấy ngày sau, đức cha Berriochoa Vinh và cha Almato Bình cũng từ Kẻ Nê xuôi dòng nước tới đấy, tình cờ gặp hai cha con đức cha Liêm trên khúc sông gần bến đò Hàn, gần thị xã Hải Dương, thật là một cuộc gặp gỡ hết sức vui mừng và cảm động. Ban ngày các nhà truyền giáo chia tay nhau, mỗi người một thuyền giả làm người chài lưới, tìm kiếm giáo dân an ủi và ban bí tích cho họ.
Gia đình trưởng Bính tận tình che chở cho đức cha Hermosilla Liêm và thày Khang. Nhờ đấy cha con tạm sống yên ổn được một thời gian, cho tới ngày xảy ra vụ cãi nhau giữa cha con trưởng Bính. Đứa con trai vì tức giận bố mẹ, nên đã đi tố cáo hai ông bà về tội chứa chấp tây dương đạo trưởng. Đội Bằng lúc ấy là chánh tổng, dẫn gia nhân đến bắt đức cha Liêm trưa ngày 20-9. Khi đội lính Bằng tới, thày Khang nhanh như chớp, đánh cho tên xung phong một quả, rồi nhổ cây sào định chống cự. Nhưng đức cha khuyên can : “Con đừng làm hại chúng, hãy để mặc thánh ý Đức Chúa Lời” thế là cha con bị bắt trói, dẫn vào thành Hải Dương.
Chính lúc đức cha Liêm bị bắt, thì thuyền của đức cha Vinh và cha Bình cũng ở gần đấy, nhưng may mắn đã chạy thoát. Hai môn đệ Chúa Giêsu, biết không thể sống trên thuyền được nữa. Một giáo hữu, ông cựu Trọng, dẫn hai nhà truyền giáo đến trọ nhà một người ngoại đạo là ông lang Thửa, hai vị được đón tiếp niềm nở. Nhưng người cháu của ông lang là khán Cáp, khi biết việc này, liền đi báo quan để lãnh thưởng. Vì không muốn bị mang tiếng xấu, khán Cáp mời hai thừa sai đi ở nơi khác, rồi dẫn hai vị ra cánh đồng cho quan huyện Thanh Hà đến bắt, hôm đó là ngày 25-10-1861. Ngay chiều hôm ấy, hai tôi tớ Chúa được khiêng trong cũi vào thành Hải Dương, đặt ngay bên cũi đức cha Hermosilla Liêm. Ba nhà truyền giáo nhìn nhau cảm động, vui mừng, vì biết sẽ cùng nhau được phúc tử đạo.
Trước quan tòa, tổng đốc Hải Dương bấy giờ là ông Nguyễn Quốc Cẩm, thấy các đạo trưởng có gương mặt hiền lành đáng kính, nên không đành tâm đối xử tàn nhẫn. Ông chỉ điều tra qua loa về tên tuổi về việc giảng đạo. Cha Bình trả lời : “Tôi là linh mục, tên Bình, người Iphanho, sang đây giảng đạo được 7 năm tại nhiều nơi”. Quan hỏi đức cha Vinh, đức cha đáp : “tôi là giám mục Vinh, sang Annam mới được 4 năm. Địa phận tôi ở Nam Định, Nam Thượng, Nam Hạ, nhưng bên ấy các quan bắt bớ riết mãi, không ẩn đâu được, thế bất đắc dĩ mới phải trốn ra ngoài này”. Quan hỏi hồi năm 1858 có đồng tình với giặc không ? Đức cha trả lời : “Tôi không lập mưu kế nào làm hại nhà nước bao giờ, tôi chỉ có một ý sang giảng đạo Chúa trời đất, cùng khuyên mọi người ăn ở ngay lành mà thôi”.
Quan tổng đốc truyền dẫn hai nhà truyền giáo về cũi. Ông truyền cho viên cai ngục phải đối xử tử tế, và cấm không ai được lỗ mãng xúc phạm đến các ngài. Tổng đốc Nam Định Nguyễn Đình Tân nghe nói có ba tây dương đạo trưởng bị bắt ở tỉnh Đông được đối xử quá tử tế, bèn đích thân đến Hải Dương, cậy thế là bố vợ vua, dùng quyền đòi tổng đốc Nguyễn Quốc Cẩm lên án trảm quyết ba nhà truyền giáo.
Thế là ba bản án được thi hành ngay vào đúng ngày lễ các thánh năm 1861, tại pháp trường Năm Mẫu ngoài thành Hải Dương. Ba cái cũi được khiêng đi, theo sau là một đội lính võ trang đi hàng hai. Cha Bình trong cũi thứ nhất, tay cầm Chuỗi Mân Côi trầm tĩnh cầu nguyện. Đức cha Vinh trong cũi thứ hai, ngài vẫn giữ trạng thái trầm tư suy gẫm như mọi ngày ngài vẫn làm, không tỏ chút nào là lúng túng, lo sợ. Trong cũi thứ ba, đức cha Liêm rất nghiêm trang như khi ngài bước lên bàn thờ cử hành Thánh lễ đại triều, thỉnh thoảng đức cha giơ tay chúc lành cho các anh em tín hữu đứng bên đường. Khi tới nơi, khu đất Năm Mẫu, ba vị ra khỏi cũi, cầu nguyện ít phút, rồi đưa tay ra cho lý hình trói vào cọc. Bản án được đọc lên, ba hồi chiêng trống vang dội, ba thanh gươm vung lên một lượt chém rơi đầu ba vị sứ giả Tin Mừng. Trong lúc đó, bầu trời bỗng mất ánh nắng gắt, một luồng gió mát thổi lên, nhiệt độ ngoài trời giảm xuống hẳn. Có những đàn bướm trắng và những sợi dây tơ như bông bạch tuyết lượn quanh trên đầu các đấng tử đạo. Sự việc ấy diễn ra, khiến cho mọi tín hữu có mặt nơi ấy đều hốt hoảng, họ cầu nguyện liên hồi, và kêu tên cực trọng Danh thánh Chúa Giêsu, cùng thương tiếc ba đấng anh hùng, họ tin rằng : các thiên thần đến đón các ngài về trời ; còn những người ngoại giáo và cả những bọn lính lý hình thì thì sợ hãi và mang theo nỗi xúc động.
Khi các quan ra về, từ lương dân hay người công giáo đều tranh nhau thấm máu các vị chứng nhân anh dũng. Ba xác thánh được bọc trong ba cái chăn đem chôn cất tại chỗ, còn ba thủ cấp quan truyền bêu riếu ở bến đò Hàn ba ngày, rồi buông sông. Nhưng giáo dân đã lập mưu đặt ba củ chuối vào ba cái sọt, để đánh tráo lấy ba cái đầu đưa về Yên Dật. Xác thánh của ba đấng được cải lên rước về Thọ Ninh, ba đầu cũng được rước về đấy, ráp vào với ba thân mình.
Năm 1885, hài cốt của hai đức cha và cha Bình ở Thọ Ninh được cải lên. Hài cốt của đức cha Liêm được trao cho đức cha Terres Hiến, đem chôn táng trong nhà thờ thị xã Hải Dương, rồi đặt trên bàn thờ, riêng đầu của đức cha Liêm được rước về quê hương của đấng thánh ở Tây Ban Nha. Hài cốt đức cha Vinh và cha Bình thì giáo quyền lo liệu gửi sang Manila, rồi cũng rước về nguyên quán.
Đức Cha Hermosilla Liêm, một nhà truyền giáo đầy lỗi lạc. Sống và làm việc truyền giáo qua ba thời vua cấm đạo, ngài vẫn hằng làm việc hăng say không ngừng nghỉ. Chúa Quan Phòng đã giúp ngài thoát khỏi những hoàn cảnh đầy éo le, nguy biến, Biết bao khó khăn, gian khổ cùng với những thử thách trên bước đường truyền giáo "nằm gai, nếm mật" ngài từng trải qua. Để rồi, nhờ bàn tay của ngài, công trình của Đức Chúa được tỏa sáng, lan rộng khắp nơi. Một đấng thánh đầy trung thành của Thiên Chúa, ngài hưởng 61 tuổi dương gian. Đức cha Valentino Beririochoa Vinh, một nhà truyền giáo cần mẫn, vui tươi, kiên nhẫn trong mọi hoàn cảnh, chấp nhận đau khổ để thực hiện công việc của Chúa, chấp nhận cuộc sống nhục nhã của kiếp người để truyền rao chân lý, ngài hưởng được 34 tuổi xuân. Cha Pedro Almato Bình với tinh thần hăng say dấn thân, không sợ nguy khó, chấp nhận những khó khăn bệnh tật, những thử thách thể xác nhưng bên trong thân xác đó là một chí khí kiên cường trong ơn Chúa, để vun đắp cho cánh đồng tín hữu Việt Nam ngày thêm tươi tốt bằng đời sống đức tin, truyền rao chân lý của ngài và ngài đã làm nhiều việc cho Danh Thánh Đức Chúa trời, ngài hưởng 36 tuổi trên dương thế.

 

Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang – thày giảng


Nguyễn Duy Khang chào đời năm 1832, tại Cao Mại xã Trà Vinh, huyện Vũ Tiên – Thái Bình. Cha mẹ của cậu là những giáo hữu đạo đức, hướng dẫn, dạy dỗ các con vào đời sống đạo ngay từ nhỏ. Nhưng cha cậu mất sớm, cậu Khang được mẹ chăm lo tận tình. Bà lo liệu cho con được học hành đàng hoàng, gợi cho con chí hướng dâng mình cho Chúa. Bà gửi cậu Khang vào nhà Đức Chúa trời ở với cha dòng Matheô Năng. Sau 10 năm sống với vị linh mục thánh thiện này, cậu Giuse Khang được cha Năng gửi đi học chủng viện tại Kẻ Mốt, học Lavăn và các môn học chuẩn bị cho chức linh mục tương lai. Giai đoạn này, thày Giuse gia nhập và khấn dòng Đaminh, và được anh em tín nhiệm bầu làm trưởng tràng, điều hành mọi công việc trong nhà, như lao động, nấu ăn, liên lạc với các bề trên ; mặc dù bận rộn, thày Khang vẫn nêu gương sáng cho anh em trong học tập và kỷ luật. Những ai tiếp xúc với thày đều khen thày đạo đức, có tính cương trực và luôn hòa nhã với mọi người.
Khi ấy, đức cha Hermosilla Liêm đặt trụ sở tòa giám mục tại Kẻ Mốt, đã tín nhiệm thày, chọn thày là người phòng hộ (người tháp tùng). Thày Khang vui vẻ phục vụ đức cha cách tận tình : từ việc dọn bàn thờ dâng lễ, sắp xếp các hồ sơ thư từ, sao chép các thư luân lưu, cho đến những việc cơm nước, liên lạc, đào hầm trú ẩn. Sau chiếu chỉ lệnh “phân sáp” ngày 5-8-1861, chủng viện Kẻ Mốt phải đóng cửa, các chủng sinh phải tứ tán khắp nơi, thày Khang xin và đã được chọn đi theo đức cha Liêm. Khi giả từ các bạn, thày nửa nói đùa, nửa nói thật : “Tôi nhất định theo đức cha, các quan có bắt người, ắt sẽ chẳng tha tôi. Đức cha chết vì đạo, tôi cũng chết theo, mất đầu còn chân, sợ gì!” Một câu nó dí dỏm nhưng đầy sự trung tín của người con chiên đối với chủ chăn, và là người chứng nhân kiên cường của Chúa.
Tháng 9-1861, các hầm trú của đức cha Liêm đều bị bại lộ. Lợi dụng lúc đêm khuya, thày Khang dẫn đức cha ra sông Thái Bình, tự mình chèo thuyền đến một khúc sông vắng, gặp thuyền người công giáo có tên là trưởng Bính, cho tá túc. Tạm được sống yên ổn, cho đến ngày cha con trưởng Bính bất hòa, đứa con trai đi tố cáo, và rồi, đức cha và thày Khang đều bị bắt. Khi đội lính Bằng đến bắt đức cha, thày Khang nhanh như chớp dùng sức khỏe và tài năng võ nghệ, thày đánh trả những tên lính, nhưng do đức cha khuyên can, nên thày đành chấp nhận cho bọn lính đội Bằng trói bắt hai cha con. Thày Giuse Khang bị tống giam chung với các đầu mục.
Khi đức cha Hermosilla Liêm bị đem đi xử, thì thày Khang vẫn còn bị giam trong ngục cùng với các đầu mục. Cái đau khổ của thày là không được cùng chết với đức cha Liêm vào ngày 1-11-1961. Thày phải còn chiến đấu thêm một tháng. Trong tháng ấy, thày chịu tra tấn ba kỳ : kỳ thứ nhất, thày bị đánh đòn nát hết hai bên mông, máu chảy lênh láng, nhưng nét mặt vẫn vui tươi ; lần thứ hai là 180 roi ; lần thứ ba là 120 roi. Cả ba lần, lần nào thày cũng tỏ ra chí khí anh hùng của một chiến sĩ đức tin. Trong một bức thư gửi cho các bạn học đang trú ẩn ở làng Hảo Hội, thày viết : “Các quan đã tra tấn tôi một kỳ để hỏi tôi, đức cha đã ở những đâu, song tôi không trả lời, bằng lòng chịu đòn, xin anh em cầu nguyện cho tôi”. Trong một bức thư khác, thày viết : “Anh em gửi cho tôi một cái quần, vì quần tôi cũ phải đòn nhiều đã rách nát, cũng xin gửi cho tôi một cái chăn, để khi tôi chết có cái liệm xác chôn”.
Ngày 6-12-1861, thày Giuse Khang nghe án trảm từ kinh thành ra. Chính hôm ấy, thầy được dẫn đi xử cũng tại pháp trường Năm Mẫu, nơi đã thấm máu người cha đáng kính của thày, cách đây hơn một tháng. Đến giờ đã điểm, nét mặt của thày không vương chút sợ hãi mà thay vào đó là sự vui tươi, phấn khởi, vì nhờ có sự đau thương này, thày Giuse minh chứng về đạo Thiên Chúa là đạo thật, mà chúng ta có bổn phận làm sáng Danh Người. Lý hình vung gươm chém rơi đầu vị anh hùng đức tin bất khuất. Quan dạy dân làng chôn xác thày ở một cánh đồng, ngoài pháp trường. Giáo dân Thọ Ninh và Lai Tê, khi đi lấy xác của ba đấng tử đạo ở pháp trường Năm Mẫu, cũng có ý tìm xác của thày Khang, nhưng không kịp tìm ra, phải để lại lần sau. Mãi đến năm 1867, đức cha Alcazar Hy mới truyền cho thày cai Hinh là anh ruột của đấng tử đạo đi tìm. Sau khi đã tìm thấy, giáo dân cải lên đưa thày về chôn táng trong nguyện đường Kẻ Mốt. Đến sau, đem vào trong nhà thờ giáo xứ Hải Dương, chôn nơi gần bàn thờ. Năm 1906, hài cốt của đấng tử đạo được đặt trên bàn thờ. Thời di cư năm 1954, đầu chân phước tử đạo được giáo dân đưa vào Nam, được tôn kính trong đền thánh Hải Dương – Hố Nai – Biên Hòa – tỉnh Đồng Nai bây giờ.
Vị chiến sĩ của Đức Kitô đã vào trận, bằng với cả con người và chí hướng hiến dâng, thày Giuse Khang đã dâng hiến cho Chúa trọn cuộc đời son trẻ của mình, để qua tấm gương anh dũng của thày, thế hệ hậu lai phát huy tinh thần sống đạo, đời sống chứng nhân nơi dòng đời ngày nay. Thày hưởng 29 tuổi xuân xanh trên dương thế.



Tiếng nhạc oai hùng,
Vang lên khắp cõi đời trần ai,
Tấm lịng yêu mến,
Con thiết tha hịa khúc khải hồn ca.
Đồng thanh, ta hát vang lừng
Bao đấng anh hùng
Xưa đã dấn thân giữa đời
Loan báo đức tin khắp trời,
Đồng thanh, ta hát vang lừng
Bao đấng anh hùng
Xưa đã lấy máu đào
Minh chứng đức tin sáng ngời.  Mười một đấng anh hùng này được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong thánh ngày 16 – 9 – 1988 trong số 117 vị thánh  Tử Đạo Việt Nam. 


Lời kết !
Các anh hùng đức tin đã sống cho Chúa, đã làm cho Chúa những gì Chúa muốn thực hiện. Nhờ có dòng máu các ngài đổ ra mà Hội Thánh hoàn cầu được lớn mạnh, trong đó có Hội thánh Việt Nam. Dòng máu tuôn chảy, minh chứng đức tin sâu sắc, tình yêu Chúa nồng nàn, tình yêu tha nhân sâu thẳm. Dòng máu đã chảy ra để đưa những con chiên ngoại đàn trở về với đàn chiên, cũng từ dòng máu đó đã vang lên bản tình ca – ca ngợi Thiên Chúa là tình yêu, và chỉ có Người, tình yêu của nhân loại mới được ban phát cho nhau và cùng nhau sống trong chân lý của Ngài.
Trang hùng sử của các vị thánh tử đạo để lại không riêng gì cho đất nước con người Việt Nam, nhưng cho toàn thế giới và cách riêng cho giáo dân xứ Kẻ Mốt. Là một giáo xứ có đời sống đức tin lâu đời, là chiếc nôi của hội thánh, là nơi đào luyện ơn gọi trong thời đoạn cấm cách. Các chứng nhân đã qua đi một thời, nhưng những tấm gương anh dũng đã đổ máu đào cho rạng danh Chúa vẫn trường tồn mãi mãi. Từ đây, giáo dân giáo xứ Kẻ Mốt sẽ sống một đời ghi lòng tạc dạ, cùng bắt chước những tấm gương đó, sống đời minh chứng nơi dòng đời ngày nay. Cùng chịu tử đạo cho một xã hội đang ngày phát triển bằng chính đời sống tin – yêu nơi Thiên Chúa – yêu thương nhau trong tình huynh đệ, cùng nêu cao đức tin Kitô giáo trong mình.
Kẻ Mốt mãi được ghi dấu, được ghi danh trong trang sử vàng bởi các chứng nhân hào hùng – bất khuất. Nguyện các thánh tử đạo đã vì Chúa chấp nhận án chết bất công, mãi luôn đồng hành cùng với giáo dân Kẻ Mốt, để từng người trong xứ đạo luôn biết phát huy đức tin Kitô giáo, cùng tung gieo đức tin đó vào những tâm hồn đang nguội lạnh, những tâm hồn bao năm xa Chúa, chối bỏ Chúa, những tâm hồn chai sạn trên đá cứng, gai nhọn và những tâm hồn chưa một lần được biết đến Chúa. Hãy vào trận, hãy ra đi, để cánh đồng Kẻ Mốt có thêm nhiều bông lúa mới với trĩu những hạt tốt tươi.
Ngày nay, giáo xứ Kẻ Mốt đã và đang phát triển về mọi mặt, nhất là về cơ sở hạ tầng, phương tiện phục vụ cùng với đời sống của giáo dân được nâng cao rõ rệt. Với cơ sở vững chắc, với những chứng tích về tấm gương hào hùng của các bậc tiền nhân anh dũng, là một giáo xứ cổ kính có đức tin lâu đời. Xin được đề nghị với Bề trên giáo phận cho phép giáo xứ Kẻ Mốt được lập Đền Thánh Tử Đạo của giáo phận, là nơi cho giáo dân đến hành hương để kính viếng, để nhớ lại những trang vàng hào hùng của lịch sử đức tin Kitô giáo, mà các đấng thánh đã một thời lưu lại nơi đây, cùng xin các thánh cầu nguyện cho mọi thành phần tín hữu trong giáo phận chúng ta.

 

Kẻ Mốt, ngày 20-4-2008
Lm. Chính xứ
Giuse Trần Đăng Can