Khu nhà thờ giờ thế nào rồi ?

Giữa trưa tháng Sáu oi nồng, cái nắng 40 độ, tôi bước vào khu tạm cư và gặp những cụ ông, cụ bà của Ngô Thôn. Người đầu tiên tôi gặp là một bà quản cựu. Bà ngồi lặng lẽ nơi góc hiên, vừa trông đứa cháu nhỏ vừa dõi mắt nhìn xa xăm. Khi được hỏi chuyện, bà chỉ bẽn lẽn đáp vài câu ngắn rồi lại im lặng. Đôi mắt hoe đỏ như đang hướng về một nơi chất chứa biết bao nhớ thương.

Trò chuyện được một lúc, tôi nhận ra rằng ở đây, ai cũng mang trong mình một nỗi nhớ.
Tôi hỏi các ông bà: Có nhớ quê không?

Không ai trả lời dài dòng. Chỉ một tiếng đáp thật khẽ: Nhớ chứ…


Rồi câu chuyện được nối tiếp bằng những tiếng thở dài. Mỗi khi có ai từ quê ghé qua, hay có người vừa trở về từ làng cũ, các cụ lại vội vã hỏi thăm. Hỏi từng chút một, hỏi như sợ bỏ lỡ bất cứ tin tức nào từ quê nhà.

Điều khiến tôi nghẹn lòng nhất lại nằm ở những câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản. Các cụ không hỏi: “Nhà tôi đã tháo dỡ chưa?” hay “Đồ đạc còn nguyên không?”

Mà điều các cụ bận tâm lại là: “Họ đã tháo dỡ đến nhà thờ chưa?” “Khu nhà thờ giờ thế nào rồi?”. Nghe những câu hỏi ấy, tôi chợt lặng người.

Có lẽ bởi các cụ hiểu rằng ngôi nhà của mình rồi cũng sẽ phải rời đi. Những bức tường, mái ngói hay khoảng sân quen thuộc rồi sẽ thay đổi theo thời cuộc. Nhưng ngôi nhà thờ lại khác.

Đó không chỉ là một công trình. Đó là nơi lưu giữ ký ức dọc dài của cả đời người, cả một cộng đoàn. Ở đó có tuổi thơ của biết bao thế hệ. Có những Thánh lễ đều đặn qua năm tháng. Có những mùa Giáng Sinh, Phục Sinh đầy kỷ niệm. Có những ngày cưới hỏi, những lần tiễn biệt người thân về với Chúa.

Có những buổi đọc kinh của Hội Dòng Ba, những buổi kính Lòng Thương Xót Chúa lúc ba giờ chiều … Suốt mấy chục năm cuộc đời, các cụ đã sống cùng những lời kinh, những tiếng chuông nhà thờ như thế. Bởi vậy, khi phải xa quê, điều khiến các cụ đau đáu nhất không chỉ là ngôi nhà mình từng ở, mà còn là mái nhà thiêng liêng đã nuôi dưỡng đức tin của mình qua năm tháng.

Ngày rời quê, mọi chuyện diễn ra quá nhanh. Người ta tất bật chuyển nhà, gửi đồ, tìm nơi ở tạm. Những cuốn sách kinh, những cỗ tràng hạt, những vật dụng gắn liền với đời sống đạo đức cũng được vội vàng gói ghém trong những túi đồ, những thùng carton rồi gửi nhờ khắp nơi.

Đến chốn tạm cư, các cụ mới giật mình nhận ra mình không biết những món đồ thân thuộc ấy đang ở đâu. Một cụ cười buồn rồi chậm rãi kể: “Giờ tôi chẳng nhớ mình gửi sách kinh ở đâu nữa…” Ngừng một lúc, cụ lại nói tiếp: “Cả cỗ tràng hạt màu trắng tôi còn cẩn thận gói trong túi ni-lông, vậy mà giờ cũng chẳng biết thất lạc nơi nào rồi.”

Nghe thì chỉ là chuyện một cuốn sách kinh hay một cỗ tràng hạt. Nhưng với những người đã gắn bó cả đời với lời kinh tiếng nguyện, đó đâu chỉ là những vật dụng bình thường. Đó là cuốn sách tuy nhàu nát nhưng đã theo họ suốt bao năm tháng. Là cỗ tràng hạt đã mòn theo những lời kinh sớm tối.

Vì thế, điều khiến các cụ tiếc nuối không phải giá trị của món đồ, mà là cảm giác như một phần ký ức thân quen của mình bỗng lạc mất giữa những ngày tất bật chuyển dời. Chỉ là một câu chuyện nhỏ. Nhưng phía sau câu nói ấy là cả một khoảng trống lớn trong lòng những người cao niên. Bởi có những người đã dành gần trọn cuộc đời để sống cùng tiếng chuông nhà thờ, cùng những giờ kinh sớm tối. Và hôm nay, có lẽ lần đầu tiên sau mấy chục năm, họ phải tập làm quen với cuộc sống xa với những gì thân thuộc.

Người trẻ có thể nhớ một ngôi nhà. Còn những người già lại nhớ cả một miền ký ức. Nhớ con đường dẫn tới nhà thờ. Nhớ tiếng chuông ngân trong buổi sớm. Nhớ những giờ kinh quen thuộc. Nhớ những khuôn mặt thân thương trong cộng đoàn. Và nhớ mái nhà thiêng liêng đã đồng hành với họ suốt một đời người.

Điều các cụ trăn trở nhất chính là ngôi nhà Chúa – nơi đã gìn giữ ký ức, nuôi dưỡng đức tin và gắn kết cả một cộng đoàn qua biết bao thế hệ.

Những tháng năm đã sống bên tiếng chuông nhà thờ sẽ mãi là ký ức quý giá theo các cụ suốt cuộc đời. Và có lẽ, chính những ký ức ấy lại đang nâng đỡ họ bước qua những tháng ngày nhiều nhọc nhằn hôm nay…

– An Bình –