Tuần 14, ngày 89-95: Chuyện về vua Đa-vít | 365 ngày Hiệp hành với Lời Chúa

Ngày 89 – Ông Giô-na-than giúp ông Đa-vít trốn thoát

1 Sa-mu-el 20,1-42

Ông Đa-vít trốn khỏi Nai-giốt thuộc Ra-ma, và đến nói trước mặt ông Giô-na-than: “Tôi đã làm gì, tôi có lỗi gì, có tội gì với cha anh, mà người lại tìm hại mạng sống tôi?” Ông Giô-na-than trả lời: “Không đời nào! Anh sẽ không chết đâu! Anh xem: cha tôi không làm điều gì, lớn hay nhỏ, mà không tiết lộ cho tôi. Vậy sao cha tôi lại giấu tôi điều này? Không có chuyện đó đâu!” Ông Đa-vít nói lại và thề: “Cha anh thừa biết tôi được đẹp lòng anh, nên đã tự bảo: ‘Giô-na-than không được biết điều này, kẻo nó buồn phiền.’ Có ĐỨC CHÚA hằng sống, có anh đang sống đó, tôi xin thề: giữa tôi và cái chết chỉ còn một bước.” Ông Giô-na-than nói với ông Đa-vít: “Lòng anh muốn sao, tôi sẽ làm cho anh như vậy.” Ông Đa-vít trả lời ông Giô-na-than: “Mai là ngày đầu tháng, và tôi phải ngồi ăn với đức vua. Anh sẽ để cho tôi đi và tôi sẽ ẩn ngoài đồng cho đến chiều ngày kia. Nếu cha anh thấy vắng tôi, anh cứ nói: ‘Anh Đa-vít đã nài nãng xin phép con chạy về Bê-lem, thành của anh, vì ở đó có hy lễ hằng năm cho toàn thị tộc.’ Nếu người nói: ‘Tốt lắm’, thì tôi tớ anh đây được bình an. Nhưng nếu người nổi giận, thì anh nên biết rằng người đã quyết tâm làm điều ác. Xin anh lấy tình mà xử với tôi tớ anh đây, vì anh đã nhân danh ĐỨC CHÚA mà lập giao ước với tôi tớ anh. Nếu tôi có lỗi, thì chính anh hãy giết tôi đi, chứ sao lại đưa tôi đến với cha anh?” Ông Giô-na-than nói: “Không đời nào anh được nghĩ thế! Vì nếu tôi biết rằng cha tôi đã quyết tâm làm điều ác để hại anh, chẳng lẽ tôi lại không báo cho anh biết sao?” Ông Đa-vít nói với ông Giô-na-than: “Ai sẽ báo cho tôi biết, nếu cha anh trả lời anh cách cứng cỏi?”

Ông Giô-na-than bảo ông Đa-vít: “Nào chúng ta ra ngoài đồng”, và cả hai ra ngoài đồng. Ông Giô-na-than nói với ông Đa-vít: “Có ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en chứng giám! Ngày mai ngày kia, vào giờ này, tôi sẽ dò ý cha tôi. Nếu mọi sự tốt đẹp cho Đa-vít, mà bấy giờ tôi lại không sai người đến tiết lộ cho anh, thì xin ĐỨC CHÚA phạt Giô-na-than thế này, và còn thêm thế kia nữa! Còn nếu cha tôi muốn làm điều ác hại anh, thì tôi sẽ tiết lộ cho anh, sẽ để cho anh đi, và anh sẽ đi bình an. Xin ĐỨC CHÚA ở với anh như đã ở với cha tôi! Nếu tôi còn sống, thì xin anh lấy tình mà xử với tôi như ĐỨC CHÚA đòi hỏi. Còn nếu tôi chết, thì xin anh đừng dứt bỏ tình nghĩa với gia đình tôi mãi mãi, ngay cả khi ĐỨC CHÚA loại bỏ các kẻ thù của Đa-vít khỏi mặt đất, không sót một tên.” Ông Giô-na-than lập giao ước với nhà ông Đa-vít và nói: “Xin ĐỨC CHÚA hỏi tội các kẻ thù của Đa-vít!” Ông Giô-na-than còn bắt ông Đa-vít thề, vì tình yêu của ông đối với ông Đa-vít: thật vậy, ông yêu Đa-vít như yêu chính mình.

Ông Giô-na-than bảo ông Đa-vít: “Mai là ngày đầu tháng, người ta sẽ thấy vắng anh vì chỗ anh trống. Ngày kia, anh sẽ xuống mau, sẽ đến chỗ anh đã ẩn ngày xảy ra vụ đó và sẽ ngồi bên cạnh tảng đá E-den. Còn tôi, tôi sẽ bắn ba mũi tên về một phía, làm như nhắm vào một cái bia. Tôi sẽ sai người đầy tớ: ‘Đi tìm các mũi tên đi!’ Nếu tôi bảo người đầy tớ: ‘Đây này, các mũi tên ở đằng sau ngươi, nhặt đi!’ thì anh hãy đến: anh được bình an, và không có gì cả. Có ĐỨC CHÚA hằng sống, tôi xin thề. Nhưng nếu tôi nói với người thiếu niên thế này: ‘Kia kìa, các mũi tên ở đằng trước ngươi!’ thì anh hãy đi, vì ĐỨC CHÚA bảo anh đi. Còn lời mà tôi và anh, chúng ta đã nói với nhau, thì có ĐỨC CHÚA chứng giám giữa tôi và anh mãi mãi.”

Vậy ông Đa-vít ẩn ngoài đồng. Đến ngày đầu tháng, nhà vua ngồi bàn dùng bữa. Nhà vua ngồi chỗ mình, như mọi khi, ở chỗ gần vách. Ông Giô-na-than ngồi đối diện. Ông Áp-ne ngồi bên cạnh vua Sa-un, còn chỗ ông Đa-vít thì trống. Hôm đó, vua Sa-un không nói gì, vì vua tự bảo: “Đó là chuyện tình cờ. Nó không thanh sạch, hẳn nó không thanh sạch.” Hôm sau ngày đầu tháng, ngày thứ hai, chỗ ông Đa-vít vẫn trống. Vua Sa-un hỏi ông Giô-na-than, con vua: “Tại sao cả hôm qua lẫn hôm nay, con trai ông Gie-sê không đến dùng bữa?” Ông Giô-na-than trả lời vua Sa-un: “Anh Đa-vít đã nài nãng xin phép con về Bê-lem. Anh ấy đã nói: ‘Xin để cho tôi đi, vì chúng tôi có hy lễ của thị tộc trong thành, và anh tôi đã ra lệnh cho tôi về. Bây giờ nếu tôi được đẹp lòng anh, xin anh cho tôi đi khỏi đây để về thăm các anh tôi.’ Vì thế anh ấy không đến bàn ăn của đức vua.”

Vua Sa-un nổi cơn thịnh nộ với ông Giô-na-than, và vua nói với ông: “Thằng con của mụ đàn bà hư thân mất nết kia! Tao lại không biết mày cặp kè với thằng con trai lão Gie-sê, để mày phải nhục và con mẹ đã đẻ ra mày cũng phải nhục sao? Thật vậy, bao lâu thằng con trai lão Gie-sê còn sống trên mặt đất, thì mày và vương quyền của mày sẽ không vững đâu. Bây giờ hãy sai người đi bắt nó về đây cho tao, vì nó đáng chết.” Ông Giô-na-than thưa với vua Sa-un, cha của ông, và nói: “Sao lại giết anh ấy? Anh ấy đã làm gì?” Vua Sa-un phóng cây giáo vào ông Giô-na-than, để đâm ông, và ông biết rằng cha ông đã quyết định giết ông Đa-vít. Nổi giận bừng bừng, ông Giô-na-than đứng lên khỏi bàn ăn, và ngày thứ hai sau ngày đầu tháng đó, ông không dùng bữa, vì ông buồn cho ông Đa-vít, bởi lẽ cha ông đã xử bất công với ông ấy.

Sáng hôm sau, ông Giô-na-than ra ngoài đồng, đến chỗ đã hẹn với ông Đa-vít, có một đầy tớ nhỏ đi với ông. Ông bảo đầy tớ: “Ngươi chạy đi tìm những mũi tên ta bắn!” Người đầy tớ chạy đi, và ông bắn mũi tên sao cho vượt qua nó. Người đầy tớ đến chỗ mũi tên ông Giô-na-than vừa bắn. Ông Giô-na-than kêu ở phía sau người đầy tớ, ông nói: “Mũi tên không phải ở đằng trước ngươi sao”? Ông Giô-na-than kêu ở phía sau: “Mau lên, lẹ lên, đừng đứng lại!” Người đầy tớ của ông Giô-na-than lượm mũi tên và đến với chủ. Người đầy tớ không biết gì hết, chỉ có ông Giô-na-than và ông Đa-vít biết sự việc.

Ông Giô-na-than giao vũ khí cho người đầy tớ và bảo: “Đi mang về thành.” Người đầy tớ về rồi, ông Đa-vít đứng dậy từ phía nam, sấp mặt xuống đất ba lần, rồi hai ông hôn nhau và cùng khóc, cho đến khi ông Đa-vít nén được cơn xúc động. Ông Giô-na-than nói với ông Đa-vít: “Anh hãy đi bình an, vì cả hai chúng ta đã nhân danh ĐỨC CHÚA mà thề rằng: ĐỨC CHÚA sẽ ở giữa tôi và anh, giữa dòng dõi tôi và dòng dõi anh, mãi mãi!”

 

Ngày 90 – Ông Đa-vít tha chết cho vua Sa-un

1 Sa-mu-el 24,1-22

Ông Đa-vít lên khỏi chỗ đó và ở trên những đỉnh núi Ên Ghe-đi. Sau khi vua Sa-un đuổi người Phi-li-tinh và trở về, người ta báo tin cho vua rằng: “Này Đa-vít đang ở trong sa mạc Ên Ghe-đi.” Vua Sa-un lấy trong toàn thể Ít-ra-en ba ngàn quân tinh nhuệ, và lên đường để tìm bắt ông Đa-vít và người của ông, ở phía đông các Mỏm Đá Sơn Dương. Vua đến các bãi quây chiên dê bên đường. Ở đó có một cái hang và vua Sa-un vào đó để đi việc cần. Ông Đa-vít và người của ông đang ngồi ở cuối hang. Người của ông Đa-vít nói với ông: “Đây là ngày ĐỨC CHÚA phán với ông: ‘Này Ta trao kẻ thù của ngươi vào tay ngươi, ngươi sẽ đối xử với nó thế nào tuỳ ý.’” Ông Đa-vít đứng dậy và cắt vạt áo khoác của vua Sa-un. Sau đó, ông Đa-vít áy náy trong lòng vì đã cắt vạt áo của vua Sa-un. Ông bảo người của ông: “Xin ĐỨC CHÚA đừng để tôi làm điều này cho chúa thượng của tôi, đấng ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong, là tra tay hại vua, vì người là đấng ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong.” Nhờ những lời ấy, ông Đa-vít đã ngăn chặn người của ông, không để cho họ xông vào vua Sa-un.

Vua Sa-un đứng lên, ra khỏi hang và lên đường.Sau đó, ông Đa-vít đứng lên, ra khỏi hang và kêu đằng sau vua Sa-un rằng: “Thưa đức vua là chúa thượng con!” Vua Sa-un ngoái lại đằng sau. Ông Đa-vít sấp mặt sát đất mà lạy. Ông Đa-vít nói với vua Sa-un: “Tại sao cha lại nghe lời người ta nói rằng Đa-vít đang tìm cách hại cha? Hôm nay đây, chính mắt cha thấy ĐỨC CHÚA đã trao cha vào tay con, hôm nay, trong hang ; người ta nói đến chuyện giết cha, nhưng con đã thương hại cha và nói: ‘Tôi sẽ không tra tay hại chúa thượng tôi, vì người là đấng ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong.’ Thưa cha, xin nhìn xem, vâng, xin nhìn xem vạt áo choàng của cha trong tay con. Vì con đã cắt áo choàng của cha và không giết cha, thì xin cha biết và thấy cho rằng tay con không làm điều ác, điều lỗi, và con đã không phạm tội hại cha, trong khi cha mưu toan lấy mạng sống con. Xin ĐỨC CHÚA phân xử giữa con và cha và xin ĐỨC CHÚA phạt cha để trả thù cho con, nhưng tay con sẽ không đụng đến cha. Như tục ngữ người xưa có nói: ‘Điều ác từ kẻ ác mà ra’, nên tay con sẽ không đụng đến cha. Đức vua Ít-ra-en đã ra trận để đánh ai? Cha đuổi theo ai? Một con chó chết! Một con bọ chét! ĐỨC CHÚA sẽ là trọng tài, Người sẽ phân xử giữa con và cha. Xin Người nhìn xem và biện hộ cho con, xin Người phân xử để con thoát khỏi tay cha!”

Khi ông Đa-vít nói với vua Sa-un những lời đó xong, thì vua Sa-un hỏi: “Đa-vít con cha, có phải tiếng của con đấy không?” Rồi vua Sa-un oà lên khóc. Vua nói với ông Đa-vít: “Con công chính hơn cha, vì con xử tốt với cha, còn cha thì xử ác với con. Hôm nay con đã tỏ ra là con làm điều tốt cho cha, vì ĐỨC CHÚA đã nộp cha vào tay con mà con đã không giết cha. Có ai gặp kẻ thù của mình mà cứ để nó đi yên lành không? Xin ĐỨC CHÚA thưởng con vì điều tốt con làm cho cha hôm nay. Giờ đây cha biết rằng chắc chắn con sẽ làm vua và vương quyền Ít-ra-en sẽ vững mãi trong tay con. Vậy giờ đây con hãy lấy ĐỨC CHÚA mà thề với cha là sẽ không loại trừ dòng dõi cha sau này, và sẽ không xoá bỏ tên tuổi cha khỏi nhà của tổ phụ cha.”

 

Ngày 91 – Chuyện ông Na-van và bà A-vi-ga-gin

1 Sa-mu-el 25,1-42

Ông Sa-mu-en qua đời. Toàn thể Ít-ra-en tập hợp lại cử hành tang lễ cho ông. Họ chôn cất ông tại quê nhà ông, ở Ra-ma.

Ông Đa-vít lên đường và xuống sa mạc Pa-ran x.

yỞ Ma-ôn có một người có cơ sở làm ăn tại Các-men. Người ấy rất giàu: ông có ba ngàn con cừu và một ngàn con dê. Ông đang ở Các-men để xén lông cừu của ông. Ông ấy tên là Na-van, còn vợ ông tên là A-vi-ga-gin. Người vợ thì khôn khéo và có duyên, người chồng thì cứng cỏi và ưa làm điều ác ; ông ta là người Ca-lếp.

Trong sa mạc, ông Đa-vít nghe tin là ông Na-van đang xén lông cừu của ông ấy. Ông Đa-vít sai mười đầy tớ đi. Ông bảo các đầy tớ: “Các anh hãy lên Các-men, đến gặp ông Na-van và nhân danh tôi vấn an ông ấy. Các anh hãy nói với người anh em tôi thế này: ‘Chúc ông được bình an, chúc gia đình ông được bình an, chúc ông vạn sự bình an! Bây giờ tôi nghe tin là có thợ đang xén lông cừu cho ông. Khi người chăn súc vật của ông ở với chúng tôi, chúng tôi đã không quấy nhiễu họ, họ đã không bị mất mát gì trong suốt thời gian ở Các-men. Ông cứ hỏi đầy tớ ông, họ sẽ nói cho ông biết. Mong rằng đầy tớ tôi được đẹp lòng ông, vì chúng tôi đã tới vào một ngày lễ. Xin vui lòng cho các đầy tớ ông và cho Đa-vít, con ông, cái gì ông sẵn có trong tay.’”

Các đầy tớ ông Đa-vít đến và nói lại với ông Na-van tất cả những lời ấy nhân danh ông Đa-vít, rồi họ đợi. Ông Na-van trả lời cho tôi tớ ông Đa-vít rằng: “Đa-vít là ai? Con ông Gie-sê là ai? Ngày nay có nhiều tôi tớ trốn chủ mà đi. Chẳng lẽ tôi lại phải lấy bánh của tôi, nước của tôi, các con vật tôi đã làm thịt cho thợ xén lông của tôi, mà cho những người tôi không biết từ đâu đến sao?” Các đầy tớ ông Đa-vít quay lại đường cũ và trở về. Khi đến nơi, họ thuật lại cho ông Đa-vít tất cả những lời đó. Ông Đa-vít bảo người của ông: “Mỗi người hãy đeo gươm của mình vào!” Mỗi người đã đeo gươm của mình, ông Đa-vít cũng đeo gươm của ông. Có khoảng chừng bốn trăm người lên theo ông Đa-vít, còn hai trăm thì ở lại giữ đồ đạc.

Một trong số các đầy tớ báo tin cho bà A-vi-ga-gin, vợ ông Na-van rằng: “Này, ông Đa-vít đã sai người từ sa mạc đến chào ông chủ, và ông chủ đã xông vào họ. Những người ấy rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã không bị quấy nhiễu, đã không mất mát gì, suốt thời gian chúng tôi di chuyển bên họ, khi chúng tôi ở ngoài đồng. Họ đã là thành luỹ bảo vệ chúng tôi, cả đêm lẫn ngày, suốt thời gian chúng tôi ở với họ mà chăn chiên dê. Bây giờ xin bà biết cho và xem phải làm gì, vì người ta đã quyết định hại ông chủ và cả nhà ông. Còn ông ấy thì là một tên vô lại, không nói chuyện với ông ấy được.”

Bà A-vi-ga-gin vội vàng lấy hai trăm cái bánh, hai bầu da đầy rượu, năm con cừu đã làm thịt, năm thúng gié lúa rang, một trăm bánh nho khô và hai trăm bánh vả, và chất lên lưng lừa. Bà bảo đầy tớ: “Các anh hãy đi đằng trước tôi, còn tôi, tôi theo sau các anh.” Nhưng bà không nói cho chồng bà là ông Na-van biết.

Bà đang cỡi lừa đi xuống, khuất sau ngọn núi thì kìa ông Đa-vít và người của ông đang xuống về phía bà, và bà đã gặp họ. Ông Đa-vít tự bảo: “Thật uổng công tôi đã giữ tất cả những gì thuộc về tên này trong sa mạc, và không để mất một cái gì của nó. Nó đã lấy oán đền ơn. Xin Thiên Chúa phạt các kẻ thù của Đa-vít thế này và còn thêm thế kia nữa, nếu cho đến sáng mai, trong tất cả những người thuộc về nó, tôi còn để lại một tên đàn ông con trai nào!” Thấy ông Đa-vít, bà A-vi-ga-gin vội vàng xuống lừa, sấp mình xuống trước mặt ông Đa-vít và sụp lạy sát đất. Bà phục xuống dưới chân ông và nói: “Thưa đức ông, tôi xin chịu tội! Nữ tỳ ngài xin được nói thấu tai ngài! Xin ngài nghe nữ tỳ ngài nói. Xin đức ông đừng để tâm đến Na-van, kẻ vô lại ấy, vì tên nó thế nào, thì nó như vậy: tên nó là Ngu và cái ngu gắn liền với nó. Nhưng tôi, nữ tỳ ngài, đã không trông thấy các đầy tớ mà đức ông sai đến. Giờ đây, thưa đức ông, có ĐỨC CHÚA hằng sống, và có ngài đang sống đó, ĐỨC CHÚA đã ngăn cản không cho ngài đi đến chỗ đổ máu và tự tay trả thù. Bây giờ, ước chi kẻ thù ngài, các kẻ tìm cách hại đức ông, phải bị như Na-van! Giờ đây, món quà này mà tớ nữ của ngài đã đem đến cho đức ông, xin được giao cho các đầy tớ đi theo chân đức ông. Xin vui lòng xá lỗi cho nữ tỳ ngài. Thật vậy, ĐỨC CHÚA chắc chắn sẽ làm cho đức ông một nhà kiên cố, vì đức ông chiến đấu những cuộc chiến của ĐỨC CHÚA, và suốt đời ngài, người ta không tìm được nơi ngài một điều ác nào. Có người đứng lên để đuổi theo ngài và tìm hại mạng sống ngài, nhưng mạng sống của đức ông sẽ được bọc trong bọc những kẻ sống bên ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngài ; còn mạng sống các kẻ thù ngài, thì ĐỨC CHÚA dùng dây phóng đá mà phóng đi. Vậy khi ĐỨC CHÚA làm cho đức ông tất cả điều tốt lành Người đã nói về ngài, và đặt ngài làm người lãnh đạo Ít-ra-en, thì đức ông sẽ không phải ân hận và áy náy lương tâm vì đã đổ máu vô cớ và trả thù cho chính mình. Khi ĐỨC CHÚA xử tốt với đức ông, thì xin ngài nhớ đến nữ tỳ ngài.”

Ông Đa-vít nói với bà A-vi-ga-gin: “Chúc tụng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa Ít-ra-en, hôm nay đã sai bà đến gặp tôi! Bà được chúc phúc vì bà khôn ngoan, bà được chúc phúc vì hôm nay đã giữ không cho tôi đi tới chỗ đổ máu và tự tay trả thù. Nhưng có ĐỨC CHÚA hằng sống là Thiên Chúa Ít-ra-en, Đấng đã ngăn cản không cho tôi làm hại bà! Giả như bà đã không vội vàng đến gặp tôi, thì cho đến khi trời sáng, sẽ không còn lại một tên đàn ông con trai nào của Na-van.” Ông Đa-vít nhận từ tay bà những gì bà mang đến cho ông, và ông nói với bà: “Bà hãy lên nhà bà bình an. Bà xem đây: tôi đã nghe theo tiếng bà và đã nể bà.” Bà A-vi-ga-gin về với ông Na-van. Kìa ông đang mở tiệc ở nhà ông, một bữa tiệc vương giả! Lòng ông Na-van vui vẻ. Ông say khướt nên bà không kể lại cho ông điều gì, dù nhỏ hay lớn, cho đến khi trời sáng. Sáng hôm sau, khi ông Na-van tỉnh rượu, vợ ông mới kể lại cho ông các sự việc ấy. Tim ông chết lặng trong lồng ngực, ông cứng đờ ra như đá. Khoảng mười ngày sau, ĐỨC CHÚA đánh phạt ông Na-van và ông chết.

Ông Đa-vít nghe tin ông Na-van đã chết, thì nói: “Chúc tụng ĐỨC CHÚA, Đấng đã biện hộ cho tôi, khi tôi bị Na-van sỉ nhục, và đã ngăn không cho tôi tớ Người làm điều ác. Còn điều ác Na-van đã làm, thì ĐỨC CHÚA đã đổ lại trên đầu nó.”

Ông Đa-vít sai người đi hỏi bà A-vi-ga-gin làm vợ.Tôi tớ Đa-vít đến với bà A-vi-ga-gin tại Các-men và nói với bà rằng: “Ông Đa-vít sai chúng tôi đến xin cưới bà làm vợ.” Bà đứng dậy, sấp mặt xuống đất và nói: “Này nữ tỳ ngài xin làm tớ nữ để rửa chân cho tôi tớ của đức ông.” Bà A-vi-ga-gin vội vã đứng dậy, lên lừa và có năm tớ gái theo chân bà. Bà đi theo những người ông Đa-vít sai đến. Bà đã trở thành vợ ông.

 

Ngày 92 – Vua Sa-un và bà đồng bóng tại Ên Đo

1 Sa-mu-el 28,1-25

Thời ấy, người Phi-li-tinh tập hợp quân đội để ra trận giao chiến với Ít-ra-en. Vua A-khít nói với ông Đa-vít: “Ông phải biết rằng ông và người của ông sẽ ra quân với tôi.” Ông Đa-vít nói với vua A-khít: “Thế thì ngài sẽ biết tôi tớ ngài làm được gì.” Vua A-khít bảo ông Đa-vít: “Vậy tôi sẽ đặt ông làm người hộ vệ tôi suốt đời.”

vÔng Sa-mu-en đã qua đời, toàn thể Ít-ra-en đã cử hành tang lễ cho ông và chôn cất ông ở Ra-ma, thành của ông. Vua Sa-un trục xuất các người đồng bóng và thầy bói ra khỏi xứ.

xNgười Phi-li-tinh tập hợp lại và đến đóng trại ở Su-nêm. Vua Sa-un tập hợp toàn thể Ít-ra-en, và họ đóng trại ở Ghin-bô-a. Vua Sa-un thấy trại của người Phi-li-tinh thì sợ và tim ông đập mạnh. Ông thỉnh ý ĐỨC CHÚA nhưng ĐỨC CHÚA không trả lời, dù bằng giấc mộng, bằng thẻ u-rim, hay qua trung gian ngôn sứ. Vua Sa-un bảo triều thần: “Hãy tìm cho ta một bà đồng bóng, để ta thỉnh ý bà ấy.” Triều thần nói với vua: “Thưa có một bà đồng bóng ở Ên Đo.”

Vua Sa-un cải trang, mặc áo khác rồi ra đi, có hai người cùng đi với vua. Đang đêm, họ đến nhà người đàn bà, và vua nói: “Xin bà ngồi đồng mà bói cho tôi, và hãy gọi lên cho tôi người tôi sẽ nói cho bà biết.” Người đàn bà nói với vua: “Này chính ông biết điều vua Sa-un đã làm: vua đã diệt trừ các người đồng bóng và các thầy bói trong xứ. Vậy tại sao ông lại gài bẫy hại tôi để làm cho tôi phải chết?” Vua Sa-un lấy ĐỨC CHÚA mà thề với bà ấy: “Có ĐỨC CHÚA hằng sống, tôi xin thề rằng bà sẽ không mắc lỗi trong việc này.” Người đàn bà nói: “Tôi phải gọi ai lên cho ông?” Vua trả lời: “Bà gọi ông Sa-mu-en lên cho tôi.”

yNgười đàn bà trông thấy ông Sa-mu-en và rú lên. Người đàn bà nói với vua Sa-un: “Tại sao ngài lại đánh lừa tôi? Ngài là vua Sa-un!” Vua nói với bà: “Đừng sợ! Bà đã trông thấy gì?” Người đàn bà trả lời vua Sa-un: “Tôi đã trông thấy một thần linh đang từ đất đi lên.” Vua hỏi: “Hình dáng thế nào?” Bà đáp: “Một cụ già đi lên, mình quấn áo choàng.” Vua Sa-un biết đó là ông Sa-mu-en, liền sấp mặt sát đất mà lạy. Ông Sa-mu-en hỏi vua Sa-un: “Tại sao ngài lại gọi tôi lên mà quấy rầy tôi?” Vua Sa-un trả lời: “Tôi lâm vào cảnh rất ngặt nghèo. Người Phi-li-tinh đang giao chiến với tôi, và Thiên Chúa đã rời khỏi tôi: Người không trả lời tôi nữa, dù qua trung gian ngôn sứ, hay qua giấc mộng. Vậy tôi đã gọi ông, để ông cho tôi biết tôi phải làm gì.” Ông Sa-mu-en nói: “Tại sao ngài thỉnh ý tôi, trong khi ĐỨC CHÚA đã rời khỏi ngài và đã trở nên thù địch với ngài? ĐỨC CHÚA đã hành động như Người đã dùng tôi mà phán: ĐỨC CHÚA đã giật vương quyền ra khỏi tay ngài và ban cho một người khác là Đa-vít. Bởi vì ngài đã không nghe tiếng ĐỨC CHÚA và đã không trút cơn thịnh nộ của Người xuống A-ma-lếch, cho nên hôm nay ĐỨC CHÚA đã xử với ngài như thế. Cùng với ngài, ĐỨC CHÚA sẽ trao cả Ít-ra-en nữa vào tay người Phi-li-tinh. Ngày mai, ngài và các con trai ngài sẽ ở với tôi. Cả quân đội Ít-ra-en nữa, ĐỨC CHÚA cũng sẽ trao vào tay người Phi-li-tinh.”

Lập tức vua Sa-un ngã sóng sượt xuống đất: vua quá sợ hãi vì lời ông Sa-mu-en nói. Hơn nữa, vua không còn sức, vì suốt ngày suốt đêm hôm ấy đã không ăn gì. Người đàn bà đến bên vua Sa-un và thấy vua quá kinh hoàng thì nói với vua: “Ngài coi, nữ tỳ ngài đã nghe theo ngài. Tôi đã liều mạng và vâng nghe những lời ngài truyền cho tôi. Vậy bây giờ, xin ngài cũng vui lòng nghe theo nữ tỳ ngài: tôi xin dọn cho ngài miếng bánh, và xin ngài ăn để có sức tiếp tục lên đường.” Vua từ chối và nói: “Ta sẽ không ăn đâu.” Các người theo hầu cũng như người đàn bà nài nỉ vua, nên vua nghe theo họ. Vua trỗi dậy từ dưới đất và ngồi lên giường. Người đàn bà có một con bê béo trong nhà. Bà vội vàng làm thịt, lấy bột mà nhồi, rồi nướng bánh không men. Bà dọn ra trước mặt vua Sa-un và trước mặt các người theo hầu vua. Họ ăn rồi đứng dậy và đi ngay đêm ấy.

Ngày 93 – Chiếm Giê-ru-sa-lem

2 Sa-mu-el 5,1-12

Toàn thể các chi tộc Ít-ra-en đến gặp vua Đa-vít tại Khép-rôn và thưa: “Chúng tôi đây là cốt nhục của ngài. Ngay cả trước kia, khi ông Sa-un làm vua cai trị chúng tôi, chính ngài đã chỉ huy các cuộc hành quân của Ít-ra-en. ĐỨC CHÚA đã phán với ngài: v ‘Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Ít-ra-en.’” Toàn thể kỳ mục Ít-ra-en đến gặp vua tại Khép-rôn. Vua Đa-vít lập giao ước với họ x tại Khép-rôn, trước nhan ĐỨC CHÚA. Rồi họ xức dầu tấn phong Đa-vít làm vua Ít-ra-en y.

Vua Đa-vít được ba mươi tuổi khi lên làm vua, và trị vì bốn mươi năm. Tại Khép-rôn, vua trị vì Giu-đa bảy năm sáu tháng. Tại Giê-ru-sa-lem, vua trị vì toàn thể Ít-ra-en và Giu-đa ba mươi ba năm.

Vua và người của vua tiến về Giê-ru-sa-lem đánh người Giơ-vút là dân bản xứ. Chúng nói với vua Đa-vít: “Ông sẽ không vào đây được, vì người mù người què sẽ đẩy lui ông.” Nghĩa là: “Ông Đa-vít sẽ không vào đây được.” Vua Đa-vít đã chiếm được đồn luỹ Xi-on, đó là Thành vua Đa-vít. Ngày hôm đó, vua Đa-vít nói: “Mọi kẻ muốn đánh người Giơ-vút, thì hãy qua đường hầm mà tấn công người mù người què, những kẻ mà lòng vua Đa-vít ghét.” Vì thế có câu: “Người mù người què sẽ không được vào Đền.” Vua Đa-vít đóng tại đồn luỹ và gọi đó là Thành vua Đa-vít. Rồi vua Đa-vít xây chung quanh, từ nền Mi-lô vào phía trong. Vua Đa-vít ngày càng mạnh thế, và ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh, ở với vua.

Ông Khi-ram, vua thành Tia, sai sứ giả đến với vua Đa-vít, đem theo gỗ bá hương, thợ mộc, thợ đẽo đá xây, và họ đã xây nhà cho vua Đa-vít. Vua Đa-vít biết rằng ĐỨC CHÚA đã đặt mình làm vua cai trị Ít-ra-en, và vì dân Người là Ít-ra-en, Người đã làm cho vương quyền của vua được vinh hiển.

 

Ngày 94 – Vua Đa-vít xử tốt với con trai ông Giô-na-than

2 Sa-mu-el 9,1-13

Vua Đa-vít nói: “Nhà Sa-un có còn người nào sống sót không? Vì ông Giô-na-than, ta sẽ lấy tình mà đối xử với người ấy.” Nhà Sa-un có một người tôi tớ tên là Xi-va. Người ta mời ông đến gặp vua Đa-vít. Vua hỏi ông: “Ngươi là Xi-va phải không?” Ông thưa: “Chính tôi tớ ngài đây.” Vua bảo ông: “Nhà Sa-un không còn người nào nữa sao, để ta lấy tình mà đối xử với người ấy như Thiên Chúa đòi hỏi?” Ông Xi-va trả lời vua: “Vẫn còn một người con trai của ông Giô-na-than, bị bại hai chân.” Vua hỏi ông: “Ông ấy ở đâu?” Ông Xi-va trả lời vua: “Ông ấy đang ở nhà ông Ma-khia, con ông A-mi-ên, tại Lô Đơ-va.” Vua Đa-vít sai người đi đón ông về từ nhà ông Ma-khia, con ông Am-mi-ên, tại Lô Đơ-va.

Khi ông Mơ-phi-bô-sét, con ông Giô-na-than, cháu vua Sa-un, đến gặp vua Đa-vít, ông cúi rạp xuống mà lạy. Vua Đa-vít gọi: “Mơ-phi-bô-sét!” Ông thưa: “Dạ, tôi tớ ngài đây!” Vua Đa-vít bảo ông: “Đừng sợ! Vì ông Giô-na-than, cha cháu, ta muốn lấy tình mà đối xử với cháu. Ta sẽ trả cho cháu tất cả ruộng đất của vua Sa-un, ông của cháu. Phần cháu, cháu sẽ luôn luôn dùng bữa tại bàn ăn của ta.” Ông lạy và nói: “Tôi tớ ngài là gì, mà ngài quay về phía một con chó chết như cháu?”

Vua Đa-vít gọi ông Xi-va, đầy tớ vua Sa-un, và bảo ông: “Tất cả những gì thuộc về vua Sa-un và thuộc về toàn thể nhà Sa-un, ta ban cho con trai của chủ ngươi. Ngươi, con cái ngươi và tôi tớ ngươi sẽ cày cấy đất đai cho ông ấy. Ngươi sẽ thu hoạch và cái đó sẽ là lương thực cho con của chủ ngươi ăn. Còn ông Mơ-phi-bô-sét, con của chủ ngươi, ông sẽ luôn luôn dùng bữa tại bàn ăn của ta.” Ông Xi-va có mười lăm con trai và hai mươi tôi tớ. Ông Xi-va thưa vua: “Tất cả những gì đức vua là chúa thượng tôi truyền cho tôi tớ ngài, tôi tớ ngài sẽ làm như thế.” Vậy ông Mơ-phi-bô-sét ăn tại bàn của vua, như một trong các hoàng tử. Ông Mơ-phi-bô-sét có một con trai nhỏ tên là Mi-kha. Mọi người ở trong nhà ông Xi-va đều là tôi tớ ông Mơ-phi-bô-sét. Nhưng ông Mơ-phi-bô-sét ở Giê-ru-sa-lem, vì ông luôn luôn ăn tại bàn của vua. Ông bị què hai chân.

 

Ngày 95 – Chiến dịch thứ hai đánh người Am-mon

2 Sa-mu-el 11,1-27

Lúc xuân về, thời mà các vua ra quân, vua Đa-vít sai ông Giô-áp đi, cùng với các bề tôi của vua và toàn thể Ít-ra-en. Họ giết hại con cái Am-mon và vây hãm Ráp-ba. Còn vua Đa-vít thì ở lại Giê-ru-sa-lem.

Vào một buổi chiều, vua Đa-vít từ trên giường trỗi dậy và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời. Vua Đa-vít sai người đi điều tra về người đàn bà, và người ta nói: “Đó chính là bà Bát Se-va, con gái ông Ê-li-am, vợ ông U-ri-gia người Khết.” Vua Đa-vít sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua nằm với nàng ; khi ấy nàng mới thanh tẩy sau thời kỳ ô uế. Rồi nàng trở về nhà. Người đàn bà thụ thai. Nàng sai người đến báo tin cho vua Đa-vít rằng: “Tôi có thai.”

Vua Đa-vít sai người đến nói với ông Giô-áp: “Hãy sai U-ri-gia, người Khết, về gặp ta.” Ông Giô-áp sai ông U-ri-gia về gặp vua Đa-vít. Khi ông U-ri-gia đến với vua, vua Đa-vít hỏi thăm về ông Giô-áp, về quân binh, về chiến sự. Rồi vua Đa-vít bảo ông U-ri-gia: “Hãy xuống nhà của ngươi và rửa chân.” Ông U-ri-gia ra khỏi đền vua, có người bưng ra một phần thức ăn của nhà vua theo sau. Nhưng ông U-ri-gia nằm ở cửa đền vua với tất cả các bề tôi của chúa thượng ông, và ông không xuống nhà mình.

Người ta báo tin cho vua Đa-vít rằng: “Ông U-ri-gia đã không xuống nhà ông.” Vua Đa-vít hỏi ông U-ri-gia: “Chẳng phải ngươi đi đường xa mới về ư? Tại sao ngươi không xuống nhà của ngươi?” Ông U-ri-gia thưa với vua Đa-vít: v “Hòm Bia cũng như Ít-ra-en và Giu-đa đang ở lều, chủ tướng tôi là ông Giô-áp và các bề tôi của chúa thượng đang đóng trại ở ngoài đồng trống, mà tôi đây lại về nhà ăn uống và nằm với vợ tôi sao? Tôi xin lấy mạng sống của ngài, lấy chính mạng sống của ngài mà thề: tôi sẽ không làm điều ấy!” Vua Đa-vít bảo ông U-ri-gia: “Hãy ở lại đây hôm nay nữa, ngày mai ta sẽ cho ngươi đi.” Ông U-ri-gia ở lại Giê-ru-sa-lem ngày hôm đó. Ngày hôm sau x, vua Đa-vít mời ông ; ông ăn uống trước mặt vua, và vua cho ông uống say. Đến chiều, ông ra nằm giường của ông cùng với các bề tôi của chúa thượng ông, nhưng không xuống nhà mình.

Sáng hôm sau, vua Đa-vít viết thư cho ông Giô-áp và gửi ông U-ri-gia mang đi. Trong thư, vua viết rằng: “Hãy đặt U-ri-gia ở hàng đầu, chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết.” Ông Giô-áp đang thám sát thành liền để ông U-ri-gia ở chỗ ông biết là có quân hùng mạnh nhất. Người trong thành xông ra, giao chiến với ông Giô-áp. Một số người trong quân binh, trong các bề tôi vua Đa-vít đã ngã gục, và ông U-ri-gia, người Khết, cũng chết.

Ông Giô-áp sai người về báo cho vua Đa-vít biết tất cả diễn tiến trận đánh. Ông ra lệnh cho người lính biệt phái rằng: y “Khi anh kể tất cả diễn tiến trận đánh cho đức vua xong, nếu cơn giận đức vua nổi lên và người hỏi anh: ‘Tại sao các ngươi lại đến gần thành mà giao chiến? Các ngươi không biết là người ta bắn từ trên tường thành xuống sao? Ai đã hạ A-vi-me-léc, con ông Giơ-rúp-be-sét? Chẳng phải một người đàn bà đã liệng xuống ông một thớt cối đá và ông đã chết tại Tê-vết đó sao? Tại sao các ngươi lại đến gần tường thành?’, thì anh sẽ nói: ‘Tôi tớ ngài là ông U-ri-gia, người Khết, cũng đã chết.’”

Người lính biệt phái ra đi và đến báo cho vua Đa-vít biết mọi điều ông Giô-áp đã sai anh về nói. Người lính biệt phái nói với vua Đa-vít: “Những người ấy đã mạnh hơn chúng tôi và đã xông ra đánh chúng tôi ở ngoài đồng, nhưng chúng tôi đã đẩy lui chúng cho đến lối vào cửa thành. Từ trên tường thành, lính bắn cung đã bắn xuống các bề tôi của ngài. Một số bề tôi đức vua đã chết, cả tôi tớ ngài là ông U-ri-gia, người Khết, cũng đã chết.”

Vua Đa-vít bảo người lính biệt phái: “Hãy nói với ông Giô-áp thế này: ‘Đừng bực mình về chuyện ấy, vì việc binh đao là thế: khi thì người này, khi thì người kia bị chém. Hãy mạnh mẽ tấn công và phá huỷ thành.’ Ngươi hãy khích lệ ông ấy.”

Vợ ông U-ri-gia nghe tin ông U-ri-gia, chồng mình, đã chết, thì làm ma cho chồng. Khi tang lễ đã qua, vua Đa-vít sai người đi đón nàng về nhà mình. Nàng trở thành vợ vua và sinh cho vua một con trai. Nhưng hành động của vua Đa-vít không đẹp lòng ĐỨC CHÚA.