Niềm hy vọng được thắp sáng

Em, một cậu bé vùng truyền giáo – số phận đưa đẩy, em mất ba mẹ ngay từ khi còn nhỏ xíu và sống nương tựa vào bà ngoại cũng đã tuổi xế chiều.

Hôm đó, tôi cùng với chị T ở hội lòng Chúa thương xót nơi Giáo xứ tôi đang thi hành sứ vụ, chở nhau trên chiếc xe cút kít của chị đến với bản làng xa xa. Chị và tôi đều không biết tên làng đó là gì, vì tầm chúng tôi đi là lúc ngả trưa nên mọi người dường như đã nghỉ trưa hết rồi. Rồi tôi nhìn thấy một cây Thánh giá nhỏ được vẽ bằng phấn ở ngay chiếc cửa gỗ cũ kỹ với nhiều lỗ nhỏ do mối mọt đục khoét. Tôi thấy đôi mắt ai đó đang nhìn qua khe cửa. Tôi lại gần gọi nhỏ: “Xin lỗi có ai ở nhà không ạ?” Thoáng nghe nhi nhí một giọng nói vọng ra: “Có ạ”. Rồi cánh cửa dần dần mở ra, một gương mặt lấm lem lộ ra trước mắt tôi. Mặc dù khuôn mặt lấm lem nhưng nó vẫn không thể phủ đi đôi mắt tròn đen dễ thương của cu cậu. Tôi mỉm cười nhìn em và nói: “Em không sợ chị bắt cóc em à?” Em chỉ lắc rồi nhìn tôi và cười. Rồi tôi thấy một bà cụ, ho lụ khụ, tay chống gậy tiến ra. Bà tiến gần về phía tôi và nói: “Con chào dì”. Tôi ngạc nhiên, mắt tròn xoe nhìn bà chẳng hiểu gì cả. “Ô, sao bà biết cháu ạ?” Bà chỉ cười và tiến lại gần tôi, tôi cười to và dắt bà quay lại tiến vào nhà. Bà mời tôi cùng chị T ngồi xuống trên mấy chiếc ghế gỗ đóng từ thời xưa, chẳng có bàn và chỉ có vỏn vẹn mấy cái cốc cũ đã ố đen, ngả màu.

Bà mời chúng tôi uống nước, tôi nhận lấy ly nước rồi liếc nhìn cu cậu đang ngồi bên cạnh cửa để nhìn vào nhà. Tôi nhớ ra trong ba-lô vẫn còn mấy chiếc kẹo mút hồi sáng cho thiếu nhi, tôi vẫy em lại gần rồi hỏi: “Em thích ăn kẹo không?” Em cười tươi rồi gật đầu lia lịa. Tôi đưa cho em tất cả số kẹo của tôi, rồi khẽ hỏi em bao nhiêu tuổi, em chỉ lắc rồi hướng sang nhìn bà, bà nói rằng: “Cháu đã gần 10 tuổi dì ạ, nhưng không được nhanh nhẹn như những đứa khác”. Rồi những giọt nước mắt lăn dài trên khóe mi bà. Bà kể lại rằng còn của bà khổ lắm, nhà nghèo rồi còn bị đột quỵ, ra đi quá nhanh. Phải mất rất lâu, bà mới có thể tạm chấp nhận được sự ra đi vĩnh viễn của tụi trẻ. Tôi nhìn bà trong niềm xót thương và không kìm được những giọt nước mắt.

Sau một hồi lắng nghe bà tâm sự, tôi cảm tưởng, dường như đã lâu lắm rồi bà không được ai lắng nghe tâm sự. Rồi tôi hỏi bà theo Đạo từ nhỏ ạ? Bà lắc đầu và nói: “Con  mới theo Đạo thôi dì ạ. Con dâu con là người Công giáo, nó đẹp và tính tình dễ thương, chẳng biết Chúa an bài sao mà con trai con gặp được nó và nên duyên vợ chồng, con mừng lắm và con theo đạo cùng con trai ngày lễ cưới của tụi nó luôn”. Nhưng số phận chớ trêu, kẻ đầu bạc lại tiễn kẻ đầu xanh.

Tôi nhìn bà rồi khẽ nói: “Niềm tin vào Thiên Chúa dẫn chúng ta đến ngày sau hết để sẽ được Phục Sinh với Ngài. Vì thế, bà không mất anh chị vĩnh viễn đâu, sau này bà sẽ gặp anh chị trong Nước Chúa. Thế nên, bà chịu khó lần chuỗi mân côi mà bà đã biết rồi đó, xin Mẹ Ma-ri-a cầu thay nguyện giúp để xin Chúa che chở cho hai bà cháu và cầu bầu xin Chúa dẫn đưa linh hồn con trai và con dâu bà vào Nước của Ngài nhé!”. Bà gật đầu rồi nắm chặt bàn tay tôi.

Tôi đi từ sự ngỡ ngàng, đến ngạc nhiên, tôi cứ tưởng bà là người đạo gốc, vì khi nói chuyện với bà, nghe bà tâm sự, tôi thấy niềm tin của bà thật vững mạnh. Rồi tôi còn thấy bà gọi tôi là dì thật gần gũi. Thật không thể nghĩ bà là người đạo theo. Ngẫm suy, tôi cảm nhận quả đúng là khi đã biết, đã gặp Chúa rồi, người ta mới xác tín làm sao. Tôi bỗng lặng thấy đôi phần xấu hổ vì mình đạo gốc, lại là một nữ tu mà nhiều khi niềm tin còn chưa lớn bằng hạt cải.

Rồi tôi nhìn lên chiếc bàn thờ nhỏ, thấy Thánh giá và ba cây nến nhỏ màu trắng đã ngả màu, tôi chưa kịp hỏi bà cụ đã trả lời: “Đó là cây nến rửa tội của con, con trai và cháu trai dì ạ. Con để dành và chỉ đốt vào ngày giỗ của vợ chồng con trai và vào ngày kỉ niệm rửa tội”.

Tôi nhìn những cây nến, rồi lại lặng nhìn hai bà cháu, thấy một ngọn nến sáng thắp lên niềm hy vọng nơi đôi mắt hai người con của Chúa, người nhà của chúng ta. Những cây nến tinh khôi của cả gia đình được thắp sáng từ cây nến Phục Sinh trong ngày lãnh nhận Bí tích rửa tội để trở nên con cái của Chúa, vẫn luôn hiện diện nơi ngôi nhà tồi tàn này, và thường xuyên được thắp lên như minh chứng cho đức tin sáng ngời của bà. Tôi nhìn di ảnh cô con dâu trẻ của bà, thầm cảm tạ Chúa và thầm nghĩ chị quả là vị truyền giáo tuyệt vời Chúa gửi đến nơi đây. Chị thật sự là một Ki-tô hữu tốt, một người phản chiếu dung nhan của Thiên Chúa tình yêu.

Tôi gửi bà những món quà bác ái được các mạnh thường quân giúp đỡ. Tôi gọi em và dặn: “Tối đốt nến lên và đọc kinh lẫn chuỗi mân côi với bà để cầu nguyện cho bố mẹ em nhé”. Em gật đầu rồi im lặng. Tôi biết em còn lạ lẫm với tôi. Tôi nở một nụ cười rồi vẫy tay chào, xin Chúa chúc lành cho hai bà cháu.

Tôi tiếp tục hành trình của mình đến với những gia đình khác, nhưng hình ảnh ngọn nến vẫn trong phảng phất nơi tâm trí tôi.Tôi ngẫm suy và nghiệm thấy: ánh nến sáng, ngọn lửa được bừng cháy từ cây nến Phục Sinh sẽ không bao giờ tắt, vì đó là ngọn lửa hy vọng. Ngọn lửa đó đã cháy trong trái tim hai bà cháu kia, để họ vững tin dù chỉ là mới biết đến Chúa. Đây cũng là một lời nhắc nhở cho chính tôi về niềm tin tôi xác tín nơi Thiên Chúa là Cha của tôi như thế nào.

Bạn thân mến! chúng ta cùng thắp lên ngọn nến hy vọng của đời mình từ cây nến Phục Sinh của Chúa. Hãy để cây nến đó được cháy trong sự quan phòng của Chúa.

Hãy thắp sáng niềm hy vọng!

Cô Muối