Ý nghĩa của việc xức tro

Để hiểu điều này, trước hết chúng ta cần khám phá lại ý nghĩa căn bản của mùa phụng vụ này, sau đó là những lưu ý về bầu khí phụng vụ và các tập tục thường được tuân giữ trong Mùa Chay thánh.

  1. Ý nghĩa căn bản của Mùa Chay là gì?

Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và Niên Lịch ghi rõ: Mùa Chay nhằm chuẩn bị cho việc cử hành Lễ Vượt Qua của Đức Ki-tô (còn gọi là Lễ Phục Sinh). Phụng vụ Mùa Chay giúp các dự tòng và các tín hữu cử hành mầu nhiệm Phục Sinh. Các dự tòng được chuẩn bị qua các giai đoạn khác nhau của việc nhập đạo; còn các tín hữu thì qua việc tưởng niệm bí tích Thanh Tẩy và việc sám hối (AC 27).

Như thế, Mùa Chay còn gọi là Mùa 40 ngày (tiếng La-tinh “Quadragesima”), được tính từ Thứ Tư Lễ Tro tới trước thánh lễ Tiệc Ly – Chiều Thứ Năm Tuần Thánh [không tính 06 Chúa Nhật liên hệ] (AC 28), là thời gian các tín hữu dành riêng để chuẩn bị cho việc ăn mừng và cử hành Đại Lễ Phục Sinh. Vì thế, mọi tín hữu được mời gọi sử dụng thời gian thánh này – vốn được thần học phụng vụ nhấn mạnh là thời gian của sa mạc, chay tịnh và thanh luyện (Mt 4,1-11; Mc 1,12-13; Lc 4,1-13) bằng việc giữ bầu khí sám hối, đơn giản và khiêm nhường, để theo gương Chúa Giêsu ăn chay và thống hối, cầu nguyện, tìm kiếm và thực thi thánh ý của Chúa, cũng là cơ hội hãm mình để chiến thắng những cám dỗ của dục vọng xác thịt, tính kiêu ngạo và thể hiện tình yêu thương, lòng quảng đại và chia sẻ đối với tha nhân.

  1. Bầu khí phụng vụ Mùa Chay

Trong suốt Mùa Chay, tức từ Thứ Tư Lễ Tro đến Kinh Vinh Danh của Lễ Vọng Phục Sinh cần tuân giữ những dấu chỉ bày tỏ VIỆC SÁM HỐI, ĐƠN GIẢN VÀ KHIÊM NHƯỜNG theo tinh thần mùa chay tịnh, giúp tín hữu dễ dàng tập trung vào Thiên Chúa và cá thực tại thiêng liêng trong công trình cứu độ của Chúa  Ki-tô. Vì thế, không được dùng hoa để trang hoàng bàn thờ và chỉ được dùng nhạc cụ để đệm cho giọng hát mà thôitrừ Chúa Nhật IV mùa Chay (tức Chúa Nhật Màu Hồng – Mừng Vui lên), các lễ trọng, lễ kính” (x. LNGM  41, 252, 300; Thư Luân lưu về việc Chuẩn bị và Cử hành Đại Lễ Phục Sinh, 17; PV, 109-10; GLCG, 1438).

Cũng vậy, bắt đầu Mùa Chay cho đến Đêm Canh Thức Phục Sinh, tiếng “Alleluia” được bỏ trong tất cả các cử hành phụng vụ thánh lễ và các giờ kinh phụng vụ. Tuy nhiên, trong các lễ trọng và lễ kính, và trong các cử hành riêng biệt, vẫn được hát Kinh Vinh Danh và đọc Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa – TE DEUM” (x. Sách lễ Rôma, thứ Bảy sau Chúa nhật IV mùa Chay; QCSL 62-63, 313; LNGM 252; Bộ Phụng Tự Thánh, Thư Luân Lưu Về Việc Chuẩn Bị Và Cử Hành Đại Lễ Phục Sinh, số 26).

Ngoài ra, các ngày Chúa Nhật mùa Chay, cấm cử hành Thánh lễ nào khác, kể cả thánh lễ an táng, cũng như các thánh lễ ngoại lịch và lễ cầu hồn hàng ngày. Chỉ được cử hành Thánh lễ tuỳ nhu cầu, nếu có nhu cầu và lợi ích mục vụ quan trọng đòi hỏi (IM 376). Khi cử hành bí tích Hôn phối, trong Thánh lễ cũng như ngoài Thánh lễ, vẫn đọc lời cầu chúc hôn nhưng khuyên đôi tân hôn nên ý thức về đặc tính của mùa phụng vụ này (OCM 11).

Theo truyền thống của Giáo Hội, mùa Chay là thời gian chuẩn bị các dự tòng gia nhập Kitô giáo qua những giai đoạn khác nhau. Do đó, trừ những trường hợp khẩn cấp, Giáo Hội mong muốn các dự tòng được lãnh nhận các bí tích Khai Tâm (Rửa tội, Thêm sức, Thánh thể) trong đêm Vọng Phục Sinh.

  1. Tại sao phải xức tro ngày khai mạc Mùa Chay?

Vào ngày Thứ Tư Lễ Tro, Giáo Hội long trọng khai mạc 40 ngày Chay Thánh. Trong Thánh lễ, linh mục làm phép tro và xức trên trán các tín hữu. Đây là một á bí tích, nghĩa là không phải là bí tích nhưng gắn liền với các bí tích, giúp nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện của Thiên Chúa và khởi đầu của mùa Chay.

Nghi thức xức tro mang nhiều ý nghĩa:

  • Nhắc nhở thân phận con người: Lời linh mục đọc khi xức tro – “Hãy nhớ, con chỉ là bụi tro và sẽ trở về cùng bụi tro” – diễn tả sự thật rằng chúng ta là phàm nhân, sẽ phải chết và phải chịu trách nhiệm trước mặt Thiên Chúa về mọi hành động của mình.
  • Mời gọi sám hối: Tro là dấu chỉ của sự thống hối, của việc hãm mình đền tội. Từ thời Giáo hội sơ khai, tín hữu mặc áo vải thô và xức tro để diễn tả lòng ăn năn.
  • Khởi đầu hành trình thiêng liêng: Tro đánh dấu ngày khai mạc mùa Chay – thời gian chuẩn bị tâm hồn để mừng Chúa Phục Sinh. Đây là lúc tín hữu được mời gọi cầu nguyện sốt sắng hơn, lãnh nhận bí tích Giải Tội, ăn chay, bố thí và làm việc bác ái.
  • Nhắc nhở về giá trị vĩnh cửu: Tro cho thấy mọi sự vật chất đều chóng qua, chỉ những gì thuộc về Thiên Chúa mới tồn tại mãi mãi.

Thực ra, Nghi thức này không xuất hiện ngay từ thời Giáo hội sơ khai nhưng đã tiến triển qua nhiều thế kỷ:

  • Từ hình thức thống hối công khai: Vào thế kỷ IV, xức tro là nghi thức bắt buộc dành cho những người phạm lỗi nặng đang thực hiện việc thống hối công khai trước khi được tái hòa nhập cộng đoàn vào Thứ Năm Tuần Thánh.
  • Sự lan rộng toàn cộng đoàn: Qua thời gian, vì lòng khiêm nhường, nhiều tín hữu khác cũng tự nguyện xin xức tro để cùng chia sẻ tâm tình thống hối với các hối nhân.
  • Định hình phụng vụ: Đến thế kỷ XI, các Đức Giáo hoàng đã chính thức kết hợp nghi thức này vào ngày khởi đầu Mùa Chay, từ đó ngày này được gọi là Thứ Tư Lễ Tro

Một chi tiết mục vụ quan trọng là tro được làm phép được đốt từ những cành lá đã làm phép trong Lễ Lá năm trước. Việc này mang ý nghĩa linh đạo sâu sắc: những cành lá từng được dùng để tung hô Chúa hiển thắng nay trở thành tro bụi, nhắc nhở rằng vinh quang thế gian sẽ qua đi và mời gọi chúng ta bước vào cuộc thương khó cùng Đức Kitô để đạt tới vinh quang Phục Sinh.Vì thế, xức tro để khai mạc Mùa Chay “hy vọng các tín hữu sẽ tìm thấy mùa Chay này là thời gian thuận tiện để làm chứng cho Tin Mừng đức ái khắp mọi nơi, vì ơn gọi đức ái là trái tim của Phúc âm hóa”. Qua đó, mời gọi sự hoán cải sâu sắc cho thế giới ngày nay, một “thời đại này đang bị tính vị kỷ cám dỗ, nó ẩn nấp trong trái tim con người … Ước muốn thái quá về của cải đã ngăn cản con người mở lòng ra với Đấng Tạo Hóa và với anh chị em mình

Ban Phụng tự Giáo phận Bắc Ninh