Vì Tương Lai Của Đất Nước…

Những ngày này, đi qua những miền quê nằm trong vùng thực hiện dự án sân bay Gia Bình, người ta dễ dàng cảm nhận được những đổi thay chưa từng có.
Những ngôi nhà lần lượt biến mất.
Những con đường quen thuộc đang đổi thay từng ngày.
Những xóm làng từng đông vui nay trở nên thưa vắng.
Người dân tản cư khắp nơi. Có người ở nhờ nhà người thân. Có người thuê tạm một căn phòng nhỏ. Có những gia đình vừa lo cho cha mẹ già, vừa lo cho con thơ, vừa lo cho một tương lai vẫn còn nhiều điều chưa rõ.

Giữa những đổi thay ấy, có một điều ít người nhắc đến: trong đợt di dời đầu tiên phục vụ dự án, nhiều cộng đoàn Công giáo đã là những người đi trước.
Những ngôi nhà đầu tiên bị tháo dỡ là nhà của người Công giáo.
Những gia đình đầu tiên chấp nhận rời quê để đi tạm cư là những gia đình Công giáo.
Những cộng đoàn đầu tiên chấp nhận sự xáo trộn của cuộc sống cũng là những cộng đoàn Công giáo.
Ngay cả những phần mộ đầu tiên phải cải táng, di dời cũng thuộc các nghĩa trang Công giáo.
Không chỉ người sống lên đường. Cả người đã khuất cũng theo con cháu rời quê.
Thế nhưng, giữa những hy sinh ấy, đôi khi người Công giáo vẫn phải đối diện với những hiểu lầm.
Có người nghĩ rằng họ chậm trễ.
Có người nghĩ rằng họ đòi hỏi.
Có người nghĩ rằng họ chưa sẵn sàng đồng hành với chủ trương phát triển.
Nhưng sự thật có phải như vậy không?
Nếu không yêu quê hương, làm sao người ta có thể đau khi phải rời xa quê hương?
Nếu không yêu mảnh đất mình đang sống, làm sao người ta có thể rơi nước mắt khi nhìn ngôi nhà của mình bị tháo dỡ?
Nếu không yêu đất nước, làm sao người ta có thể chấp nhận những mất mát lớn lao ấy vì một công trình phục vụ tương lai quốc gia?
Người Công giáo chúng tôi yêu quê hương.
Và cũng yêu đất nước này.
Chúng tôi không xin có dự án trên quê hương mình.
Chúng tôi không lựa chọn việc phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn.
Chúng tôi cũng không mong một ngày phải xa ngôi nhà mà cha ông đã đổ biết bao mồ hôi công sức để xây dựng và gìn giữ.
Nhưng khi đất nước cần phát triển, khi quốc gia lựa chọn con đường ấy để mở ra những cơ hội mới cho tương lai, chúng tôi đã chọn đặt lợi ích chung lên trên những mất mát riêng của mình.
Bởi chúng tôi hiểu rằng sự phát triển nào cũng đòi hỏi những hy sinh.
Nhưng có lẽ chỉ những ai đang trực tiếp trải qua mới hiểu hết sức nặng của hai chữ “hy sinh”.
Hy sinh không chỉ là chuyển từ nơi này sang nơi khác.
Hy sinh là từ biệt nơi mình sinh ra và lớn lên.
Là rời xa ngôi nhà được dựng nên bằng cả một đời chắt chiu.
Là nhìn những con đường quen thuộc, những hàng cây, mái trường, ngôi thánh đường, vườn thánh và những ký ức thân thương dần lùi vào quá khứ.
Là đưa cha mẹ già rời khỏi nơi họ đã sống gần trọn cuộc đời.
Là để con trẻ phải làm quen với một môi trường hoàn toàn mới.
Là chấp nhận bước vào một tương lai mà chính mình cũng chưa thể hình dung rõ ràng.
Nếu một ngày nào đó, chính bạn phải rời bỏ quê hương của mình; phải rời bỏ căn nhà đã gắn bó bao năm; phải đưa cả gia đình đến một nơi chưa biết sẽ bắt đầu lại như thế nào; phải chứng kiến phần mộ tổ tiên được di dời khỏi nơi đã yên nghỉ bao đời… liệu bạn có thể bình thản được chăng?
Có lẽ khi ấy, bạn sẽ hiểu phần nào những tâm tư đang chất chứa trong lòng những người dân nơi đây.
Điều khiến chúng tôi trăn trở không chỉ là việc phải ra đi.
Điều khiến chúng tôi thao thức hơn là cuộc sống sau khi ra đi sẽ như thế nào.
Bởi cuộc sống của người dân không diễn ra trên giấy tờ.
Cuộc sống diễn ra trong từng bữa cơm gia đình.
Trong công việc mưu sinh mỗi ngày.
Trong những giọt nước mắt của người già phải rời quê.
Trong sự bất an của những người mẹ có con nhỏ.
Trong những đêm thao thức nơi phòng trọ chật hẹp khi tương lai phía trước vẫn còn nhiều điều chưa rõ.
Chúng tôi tin vào sự phát triển của đất nước.
Chúng tôi hy vọng vào tương lai mà dự án hướng tới.
Bởi ai cũng mong đất nước mình giàu mạnh hơn, văn minh hơn, phát triển hơn.
Nhưng sự phát triển ấy sẽ trở nên ý nghĩa hơn khi những người đã chấp nhận hy sinh cho nó được quan tâm xứng đáng.
Bởi sự phát triển của một quốc gia không chỉ được đo bằng những công trình hiện đại được xây dựng.
Sự phát triển còn được đo bằng cách quốc gia ấy chăm lo cho những con người đã chấp nhận hy sinh vì lợi ích chung.
Những người Công giáo chúng tôi đã đi trước trong hành trình di dời này.
Chúng tôi đã chấp nhận những mất mát rất thật. Những hy sinh rất thật. Những tổn thương rất thật. Và chính vì những hy sinh ấy là thật nên chúng tôi mong được lắng nghe, được thấu hiểu và được trân trọng.
Không phải vì chúng tôi đòi hỏi một đặc quyền nào cho riêng mình. Mà bởi phía sau những căn nhà đã bị tháo dỡ là những cuộc đời cụ thể. Phía sau những con số thống kê là những gia đình cụ thể. Và phía sau những diện tích đất được thu hồi là một quê hương, một cộng đồng đức tin và một phần ký ức của biết bao thế hệ.
Chúng tôi chấp nhận hy sinh vì tương lai của đất nước. Và chúng tôi hy vọng rằng những hy sinh ấy sẽ được ghi nhận bằng trách nhiệm, bằng sự quan tâm và bằng những điều tốt đẹp được xây dựng cho hôm nay cũng như cho mai sau.
Để một ngày nào đó, khi nhìn lại chặng đường này, chúng tôi có thể bình an nói với con cháu mình:
“Ngày ấy, chúng ta đã chấp nhận mất đi rất nhiều vì tương lai của đất nước. Và những hy sinh ấy đã không trở nên vô nghĩa.”

– An Bình-